
Điều trị ung thư bằng xạ trị là chiếu tia vào khối bướu để phá hủy được các tế bào ung thư nhiều nhất mà lại gây ít thiệt hại nhất cho mô lành lân cận. Có các kiểu xạ trị gồm xạ trị ngoài, xạ trị trong, xạ trị trong mô, xạ trị chuyển hóa.
Tại Hội nghị khoa học phòng chống ung thư TP.Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức tháng 12/2015, nhóm nghiên cứu Huỳnh Thị Thanh Phượng cùng cộng sự Bệnh viện ung bướu TP. Hồ Chí Minh báo cáo đề tài “Chăm sóc bệnh nhân xạ trị áp sát ung thư đầu cổ”.
Theo tác giả Thanh Phượng, xạ trị trong hay xạ trị áp sát ung thư vùng đầu cổ với mục đích tăng liều xạ trên bướu, tăng khả năng kiểm soát tại chỗ; giảm liều xạ đến mức tối thiểu trên mô lành. Về ưu điểm của xạ trị trong là liều xạ khu trú cao, suất liều liên tục và tổng thời gian điều trị ngắn; thể tích bướu nguyên phát nhận được đủ liều, ưu điểm hơn nếu so với xạ trị ngoài đơn thuần có thể không đạt được. Đường liều giảm nhanh giúp bảo vệ mô lành lân cận như tuyến nước bọt, mô lành, cơ nhai.
Trước tiên đối với chăm sóc bệnh nhân xạ trị trong ung thư hốc miệng, người điều dưỡng cần kiểm tra và cho người bệnh làm tất cả xét nghiệm tiền mê: công thức máu, kiểm tra chức năng gan, thận; kiểm tra chức năng đông máu, cầm máu; các xét nghiệm khác gồm đường huyết, tổng phân tích nước tiểu, X-quang phổi, điện tim. Điều dưỡng trình bác sĩ xạ trị xem để chỉ định liều và lên lịch cắm kim cho bệnh nhân. Ở bước chuẩn bị bệnh nhân, điều dưỡng cần hướng dẫn, giải thích bệnh nhân, giúp bệnh nhân hiểu rõ tiến trình điều trị, an tâm và hợp tác tốt. Khám và điều trị răng trước khi chiếu xạ, làm máng ngậm có mang chì che chắn bảo vệ răng và xương hàm khi cắm kim. Đây là công việc chuẩn bị quan trọng đối với bệnh nhân xạ trị vùng đầu cổ. Xạ trị vùng đầu cổ có thể để lại di chứng nặng nề đối với xương hàm và răng, đặc biệt là nguy cơ gây hoại tử xương, tổn thương men răng ảnh hưởng đến cuộc sống người bệnh.
Người điều dưỡng dặn dò người bệnh trước ngày thực hiện thủ thuật nhịn ăn uống hoàn toàn sau 10 giờ tối; sáng ngày cắm kim vệ sinh răng miệng sạch sẽ, tháo răng giả (nếu có); không đeo tư trang, điện thoại; lấy dấu hiệu sinh tồn, đưa người bệnh xuống phòng thực hiện thủ thuật xạ trị trong.
Lúc người bệnh đang đặt kim xạ trị trong, điều dưỡng theo dõi sinh hiệu, thực hiện y lệnh thuốc, truyền dịch; theo dõi có nôn ói, chảy máu, vị trí đặt kim. Đặt ống nuôi ăn thích hợp (không ăn qua đường miệng); hút đàm nhớt khi người bệnh tăng tiết nhiều đàm nhớt không tự khạc ra được; hướng dẫn bệnh nhân súc rửa hốc miệng thường xuyên bằng betadin 1%. Theo dõi mức độ đau. Đưa bệnh nhân xạ trị theo đúng phác đồ thường là 2 phân liều/ngày; 3-5 phân liều/tuần. Ở bước tháo kim, trong trường hợp có chảy máu, ép gạc có trọng điểm bằng hai tay (một tay trong hốc miệng, một tay bên ngoài vùng dưới cằm) trong 8-10 phút. Sau khi tháo kim theo dõi chảy máu, mức độ đau, viêm, nhiễm trùng. Hướng dẫn người bệnh vệ sinh răng miệng, súc miệng thường xuyên bằng dung dịch sát trùng betadin 1% và nước muối sinh lý 0,9%.
Hướng dẫn người bệnh tập ăn uống bằng đường miệng khi người bệnh bớt đau; thức ăn cần lỏng, không quá nóng, quá cay. Khi người bệnh ăn được qua đường miệng, rút bỏ sond nuôi ăn. Viêm niêm mạc miệng thường bắt đầu từ tuần 1-2, có khi tuần 3-4. Quá trình lành vết thương bắt đầu từ tuần thứ 5-8 sau xạ trị trong.
Quá trình chăm sóc bệnh nhân xạ trị trong đối với các ung thư đầu cổ, từ tháng 11/2014 đến tháng 11/2015, khoa xạ 3 của Bệnh viện ung bướu TP Hồ Chí Minh có 71 ca xạ trong. Tuổi trung bình 41,6; nhỏ nhất 24 tuổi, lớn nhất 81 tuổi. Ung thư vòm hầu 37 ca; ống tai ngoài 2 ca; vị trí bướu trong mô có 34 trường hợp, gồm môi-niêm mạc má 1 ca, lưỡi 23 ca, sàn miệng 10 ca.
Theo tác giả nghiên cứu, đối với ung thư vòm hầu và ống tai ngoài, kỹ thuật xạ trị trong là kỹ thuật xạ trị trong hốc và trong lòng ống, đó là kỹ thuật xâm lấn ít, có thể thực hiện ở những bệnh nhân trẻ và lớn tuổi. Riêng đối với ung thư hốc miệng, kỹ thuật xạ trị trong là kỹ thuật xuyên kim trong mô, do đó phải tiền mê hoặc mê nội khí quản; phương pháp này không sử dụng cho bệnh nhân lớn tuổi, bệnh nhân có bệnh lý nội khoa nặng đi kèm.
Những biến chứng thường gặp khi thực hiện thủ thuật xạ trị trong, theo tác giả Huỳnh Thị Thanh Phượng báo cáo gãy ống dẫn 1 ca; tuột nút 1 ca; chảy máu khi rút kim 2 ca. Đối với trường hợp gãy ống do bệnh nhân có bệnh tâm thần kèm theo. Trường hợp tuột nút do không sử dụng miếng chặn (X3) và mô quanh ống dẫn viêm hoại tử sau một thời gian đặt gây lỏng catheter.
Tác giả nghiên cứu nhận xét tỷ lệ biến chứng thực hiện thủ thuật thấp; một số bệnh nhân chảy máu sau khi rút kim, tuy nhiên chỉ cần thực hiện thao tác ép gạc có trọng điểm trong 8-10 phút là cầm, chỉ có 01 ca phải kết hợp điều trị cầm máu bằng nội khoa. Tác giả nghiên cứu kết luận phương pháp xạ trị trong đối với ung thư đầu cổ là một kỹ thuật xạ trị có ưu điểm tăng được liều xạ tối ưu vào mô bướu và giảm liều xạ đến cơ quan lành lân cận. Việc hướng dẫn, chăm sóc người bệnh đòi hỏi điều dưỡng phải có kỹ năng chuyên biệt, nắm chắc quy trình chăm sóc người bệnh thực hiện đầy đủ, thao tác nhanh, gọn gàng, chính xác mới đảm bảo được việc chăm sóc người bệnh tốt./.
Hoa Phượng