
Tuyến giáp nằm ở phía trước cổ, có hai thùy giống như con bướm có hai cánh, bình thường không thấy được. Ung thư tuyến giáp khá thường gặp, đứng hàng thứ 5 ở phụ nữ. Bệnh ở độ tuổi từ 18 đến khoảng 50. Nếu biết bệnh sớm, điều trị đúng cách cho kết quả tốt hơn 95%.
Triệu chứng của ung thư tuyến giáp lúc ban đầu rất im lìm, khi bác sĩ siêu âm vùng cổ thấy một hột nhỏ khoảng vài mm trong tuyến giáp. Thực hiện xét nghiệm bằng chọc kim thật nhỏ hút tế bào để biết lành hay ác. Về sau hột nhỏ sờ được dưới da, chạy lên chạy xuống khi nuốt nước miếng, đây là triệu chứng sớm thường gặp nhất. Người bệnh giọng nói thay đổi, khàn tiếng ngày càng nhiều, nuốt khó, đau ở cổ và họng, có vài cục hạch ở vùng cổ bên. Ngoài xét nghiệm chọc bướu hút lấy tế bào (FNA) dưới hướng dẫn của siêu âm để xác định ung thư, còn thực hiện xét nghiệm máu lưu ý chất TSH trong cơ thể.
Thường 80% ung thư tuyến giáp là dạng nhú (carcinôm nhú), ung thư giáp dạng nang (carcinôm nang ) chiếm khoảng 15%. Dạng nhú và dạng nang gộp lại gọi là ung thư biệt hóa chiếm 90-95%.
Điều trị phẫu thuật thường mổ cắt trọn hoặc gần trọn tuyến giáp; lấy các hạch Lympho ở bên cổ để xét nghiệm ung thư có xâm nhiễm không. Trong phẫu thuật người bác sĩ mổ tốt sẽ không làm tổn thương các tuyến cận giáp gây chứng hạ calci máu; không làm tổn thương dây thần kinh nói vì nếu tổn thương gây liệt dây thanh âm, giọng khàn, giọng nhỏ hoặc khó thở. Sau mổ, người bệnh được sử dụng thuốc levothyroxin hocmon giúp để bù lại lượng hocmon giáp đồng thời ức chế sự sản xuất hocmon TSH từ tuyến yên. Lượng TSH cao có thể kích hoạt các tế bào ung thư sót lại, bác sĩ sẽ cho người bệnh xét nghiệm hocmon trong vài tháng / lần để tìm ra liều lượng thích hợp.
Sau mổ ung thư giáp, người bệnh được uống I ốt phóng xạ (I- 131) để giết các tế bào ung thư còn rơi rớt, I ốt phóng xạ giúp điều trị hiệu quả ung thư tái phát hoặc lan tràn trong cơ thể. Uống I ốt phóng xạ không sợ hại các tế bào khác vì đều bị các tế bào giáp ung thư giữ lấy, I ốt phóng xạ được đi tiểu ra trong vài ngày đầu, vì vậy cần tránh tiếp xúc với những người khác nhất là trẻ em, phụ nữ mang thai. Mặc dù được mổ lấy trọn tuyến giáp, ung thư có thể tái phát nhiều chục năm sau, dưới dạng hạch cổ, các cục nhỏ ở nơi mô giáp còn sót hoặc di căn ở phổi hoặc xương. Chúng ta cần biết ung thư giáp tái phát hoặc di căn có thể điều trị tốt.
Tại Hội nghị khoa học Phòng chống Ung thư TP Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức tháng 12/2015, ThS Trần Văn Thông- Khoa Ngoại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An cùng các cộng sự đã có báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật ung thư tuyến giáp”. Nghiên cứu được thực hiện trên 70 đối tượng nghiên cứu được chẩn đoán ung thư tuyến giáp và điều trị tại Khoa Ngoại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 10/2014 đến tháng 10/2015. Tiêu chuẩn đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tuyến giáp bằng lâm sàng, cận lâm sàng; được điều trị phẫu thuật lần đầu tiên, chẩn đoán mô bệnh học sau phẫu thuật là ung thư biểu mô tuyến giáp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi mắc bệnh nhỏ nhất là 21 tuổi, lớn nhất là 80 tuổi. Nữ giới gấp 4 lần so với nam giới. 80% đối tượng nghiên cứu đến bệnh viện trong 12 tháng đầu, có 5,7% ca phát hiện sau 36 tháng. Bệnh nhân đến viện với triệu chứng u vùng cổ, hạch cổ. Số bệnh nhân có một u chiếm 77,1%; u ở hai thùy tuyến giáp chiếm tỷ lệ 17%; có 32,8% đối tượng nghiên cứu có hạch cổ.
Kết quả siêu âm đàn hồi mô tuyến giáp cho thấy R> 5 có tỷ lệ cao nhất với 71,4%; 2,5 <R<5 có tỷ lệ 21,4%. Xét nghiệm tế bào học cho kết quả 90% u giáp có tế bào ung thư; 10% không có tế bào ung thư; đối với xét nghiệm hạch cổ 100% có tế bào ung thư.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phẫu thuật cắt tuyến giáp toàn bộ cho 61 ca chiếm tỷ lệ 87,1%; cắt tuyến giáp gần như toàn bộ cho 8,5%; còn lại là cắt thùy giáp và eo giáp. Có 50% đối tượng nghiên cứu thực hiện vét hạch cổ, trong đó vét hạch một bên 38,5%.
Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy hơn 91% là ung thư tuyến giáp thể nhú, thể nang giai đoạn 1 là 41%; T4 là 35,7%. Về thời gian nằm viện 83% nằm viện sau phẫu thuật từ 6-10 ngày. Theo BS Thông có 02 trường hợp khối u giáp đã phá vỡ vỏ; xâm lấn vào cơ trước giáp và cơ ức đòn chũm kèm theo rất nhiều hạch cổ ở cả hai bên. Kết quả phẫu thuật không có tai biến nào; tỷ lệ khàn tiếng chiếm 11%; 7% có buồn nôn, nôn gặp trong 24 giờ đầu sau mổ. Các bệnh nhân được cho nhịn ăn, truyền dịch, băng ép chặt tốt không còn xuất hiện các biến chứng do phẫu thuật và thuốc gây mê gây ra. Một tuần sau mổ chỉ còn gặp biến chứng khàn tiếng với tỷ lệ 4%; 1 tháng sau tỷ lệ này giảm cònb 1,4%. Theo ThS Thông, kết quả đạt tốt sau phẫu thuật điều trị một tháng có tỷ lệ 98,5%.
GS.TS Nguyễn Chấn Hùng- Chủ tịch Hội Ung bướu Việt Nam- chia sẻ, ở nhiều người nhất là các cô còn trẻ, nên chú ý một hột chạy lên chạy xuống khi nói hoặc nuốt nằm ở trước cổ, dưới “trái cổ”, khàn tiếng hoặc nuốt khó, thở thấy vương vướng, hạch ở dọc hai bên cổ, đau nhẹ trong hạch cần đi khám sớm để phát hiện điều trị kịp thời, đừng nghĩ mình bị bướu cổ chắc không sau đâu.
Tường Huân