[Đăng ngày: 08/05/2018]
Hiện nay, các phương pháp điều trị hiếm muộn thường được áp dụng phổ biến tại Việt Nam là thụ tinh trong ống nghiệm và thụ tinh nhân tạo (bơm tinh trùng vào buồng tử cung), trong đó chi phí của thụ tinh trong ống nghiệm cao hơn gần 10 lần so với phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung thụ tinh nhân tạo. 

Bệnh viện Từ Dũ là một trong những bệnh viện tại Việt Nam có thực hiện tất cả các kỹ thuật điều trị hiếm muộn hiện hành trong hỗ trợ sinh sản. Theo báo cáo tổng kết hoạt động của Bệnh viện Từ Dũ giai đoạn 2010-2015, cứ 2 cặp vợ chồng thì có 1 cặp được điều trị bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, với tỷ lệ thành công khoảng gần 50%. 

Tính đến năm 2016, quá trình điều trị hiếm muộn không được sự hỗ trợ chi phí từ cơ quan y tế tại Việt Nam. Quá trình điều trị hiếm muộn thường kéo dài một thời gian, người điều trị được dùng nhiều loại thuốc và thủ thuật hỗ trợ quá trình điều trị. Những loại thuốc và thủ thuật sử dụng trong điều trị hiếm muộn có chi phí cao nhưng không nằm trong danh mục chi trả của bảo hiểm Y tế. Vì vậy, các cặp vợ chồng khi điều trị hiếm muộn thường phải tự bỏ ra một chi phí lớn so với thu nhập bình quân của mình. Các chi phí mà họ phải chi trả bao gồm chi phí y tế, và chi phí ngoài y tế như sinh hoạt phí, chi phí lưu trú, chi phí đi lại. Việc điều trị hiếm muộn có thể xem là một gánh nặng kinh tế và tâm lý đáng kể cho người điều trị. Chi phí quá lớn so với thu nhập người điều trị đôi khi sẽ cản trở việc hoàn thành điều trị, gây lãng phí cho bản thân người điều trị cũng như nguồn nhân lực và vật lực y tế.

Nhóm tác giả nghiên cứu Hoàng Thy Nhạc Vũ, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh với mục đích cung cấp cho Bệnh viện những thông tin cụ thể về chi phí cho một trường hợp điều trị hiếm muộn bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, nghiên cứu này được thực hiện với mục đích tính toán các chi phí thành phần của chi phí y tế trực tiếp trong điều trị hiếm muộn bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Từ Dũ.

BS Vũ cho biết thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu mô tả cắt ngang, được thực hiện thông qua việc hồi cứu hồ sơ lưu của 295 cặp vợ chồng từng điều trị hiếm muộn thành công tại Bệnh viện Từ Dũ bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm trong giai đoạn 06/2014 – 12/2015. Nghiên cứu không thu thập dữ liệu của các trường hợp không bắt đầu điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ, những trường hợp điều trị có giai đoạn ngắt quãng do bệnh, những trường hợp hồ sơ lưu không đầy đủ thông tin.

Về tổng hợp và xử lý dữ liệu: Từ hồ sơ điều trị được chọn vào mẫu nghiên cứu, tác giả nghiên cứu ghi nhận nhưng thông tin liên quan đến thành phần chi phí của các trường hợp điều trị để tổng hợp và tính toán các chi phí thành phần bao gồm chi phí chuẩn bị trứng, chi phí chuẩn bị tinh trùng, chi phí chuẩn bị phôi và chuyển phôi, chi phí thực hiện các xét nghiệm, chi phí các thuốc đã sử dụng, chi phí cho các thủ thuật và dịch vụ y tế. Giá trị của các chi phí thành phần sẽ được tính toán dựa vào dữ liệu của toàn bộ mẫu nghiên cứu, thông qua giá trị trung bình (+ độ lệch chuẩn), giá trị tối thiểu, giá trị tối đa. Đơn vị của chi phí được sử dụng là ‘triệu VNĐ’. Cơ cấu chi phí sẽ được mô tả bằng tỷ lệ phần trăm. Dựa vào thông tin từ hồ sơ điều trị, nghiên cứu phân biệt hai nhóm là vô sinh nguyên phát và vô sinh thứ phát. Giá trị trung bình của các chi phí thành phần sẽ được so sánh giữa hai nhóm vô sinh thứ phát và vô sinh nguyên phát thông qua phép kiểm Chi bình phương. Giá trị p < 0,05 tương ứng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng phần mềm thống kê R (phiên bản 3.0.2).

Bs Vũ báo cáo phân tích, trong 295 trường hợp đã điều trị thành công bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm được đưa vào nghiên cứu, có 206 trường hợp được xác định vô sinh nguyên phát (chiếm 70%) và 89 trường hợp là vô sinh thứ phát (chiếm 30%). Độ tuổi trung bình điều trị hiếm muộn ở người vợ là 31,0 + 4,3 tuổi và ở người chồng là 34,4 + 5,5 tuổi. Trung bình, một trường hợp điều trị phải chi trả là 57,2 + 41,5 triệu VNĐ. Trường hợp điều trị ít tốn chi phí nhất của mẫu nghiên cứu là 29 triệu đồng và trường hợp điều trị có tổng chi phí cao nhất là 474,2 triệu VNĐ. Trong 3 loại chi phí thành phần liên quan đến bản chất của quá trình điều trị, nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ chi phí giảm dần từ chi phí chuẩn bị trứng đến chi phí chuẩn bị phôi – chuyển phôi và cuối cùng là chi phí chuẩn bị tinh trùng, với tỷ lệ lần lượt là 58%; 39%; 3%. Xem xét 3 loại chi phí thành phần liên quan đến từng loại chi phí, nghiên cứu ghi nhận chi phí dùng thuốc chiếm 56% tổng chi phí, tiếp đến là chi phí thủ thuật và dịch vụ y tế (36%) và cuối cùng là chi phí xét nghiệm (8%). Khi so sánh giá trị trung bình của từng loại chi phí thành phần giữa hai nhóm vô sinh nguyên phát và vô sinh thứ phát, nghiên cứu ghi nhận không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ngoại trừ trường hợp của chi phí chuẩn bị tinh trùng (p < 0,05).

Tác giả nghiên cứu chia sẻ, đây là nghiên cứu đầu tiên tại Bệnh viện Từ Dũ cung cấp các thông tin cụ thể về chi phí thành phần của chi phí trực tiếp y tế quá trình điều trị hiếm muộn bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Chi phí trung bình cho một trường hợp điều trị là 57 + 41,5 triệu VNĐ, cao hơn so với thu nhập bình quân của người Việt Nam năm 2015 (khoảng 45,7 triệu VNĐ/năm). Kết quả này tương đương với nghiên cứu tại Bệnh viện Hùng Vương, một trong những bệnh viện phụ sản lớn tại Tp Hồ Chí Minh, với trung bình tổng chi phí y tế trực tiếp cho một trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm là 57,3 + 10,4 triệu VNĐ. Tại Việt Nam, trung bình một chu kỳ điều trị bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm có chi phí trực tiếp y tế khoảng 60-70 triệu đồng. Chi phí này sẽ thay đổi và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như nơi thực hiện điều trị, đặc điểm, thời gian vô sinh và tình trạng sức khỏe của người điều trị, cũng như các chỉ định thực hiện trong quá trình điều trị. So với giá trị chi phí điều trị trung bình trong cả nước, chi phí điều trị Bệnh viện Từ Dũ thấp hơn, có thể do 90% đối tượng trong nghiên cứu thành công ngay từ 1-2 chu kỳ điều trị.

So sánh giữa trường hợp điều trị có chi phí thấp nhất (29 triệu VNĐ) và chi phí cao nhất (474 triệu VNĐ) trong mẫu nghiên cứu tác giả nghiên cứu cho biết, có sự chênh lệch khá lớn về chi phí điều trị. Sự chênh lệch này do số chu kỳ điều trị, thủ thuật chuẩn bị trứng, tinh trùng, chuyển phôi, cũng như loại thuốc sử dụng cho người điều trị. Trong quá trình điều trị, chi phí dành cho quá trình chuẩn bị trứng là nhiều nhất và gấp khoảng 20 lần chi phí chuẩn bị tinh trùng. Chi phí dành cho quá trình chuẩn bị trứng bao gồm chi phí các xét nghiệm thường quy, tiền mê, chọn lọc, siêu âm kích thích buồng trứng và chi phí thuốc kích thích buồng trứng. Trong đó, chi phí chủ yếu là chi phí thuốc kích thích buồng trứng, chiếm 56% tổng chi phí điều trị. Nghiên cứu của Bouwmans và cộng sự cho thấy chi phí sử dụng thuốc kích thích buồng trứng chiếm 68% tổng chi phí điều trị và chi phí sử dụng thuốc tăng theo tuổi của người phụ nữ. Nghiên cứu so sánh đặc điểm quá trình điều trị giữa vô sinh nguyên phát và vô sinh thứ phát của các trường hợp thụ tinh ống nghiệm được thực hiện tại Bệnh viện Từ Dũ cho thấy, vô sinh thứ phát có thời gian trung bình cần để kích thích buồng trứng cao hơn. Tuy nhiên chi phí trung bình sử dụng thuốc giữa hai nhóm nguyên nhân vô sinh trong nghiên cứu này lại không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả có thể do sự chênh lệch số lượng giữa hai nhóm nguyên nhân. Các nghiên cứu tiếp theo có thể xem xét và so sánh các kết quả này.

Nghiên cứu tiếp theo có thể nghiên cứu tính toán thêm chi phí y tế gián tiếp cũng như chi phí ngoài y tế giúp bổ sung đầy đủ thêm những thông tin về chi phí điều trị hiếm muộn bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.

BS Vũ kết luận, đây là nghiên cứu khảo sát chi phí thành phần của các trường hợp điều trị hiếm muộn bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, một phương pháp hiện nay được áp dụng thường xuyên trong điều trị tại Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu cho thấy chi phí trực tiếp y tế trong điều trị hiếm muộn cao hơn thu nhập bình quân hàng năm của người dân Việt Nam, trong đó chi phí do sử dụng thuốc kích thích buồng trứng chiếm hơn một nửa chi phí điều trị. Kết quả thu được từ nghiên cứu giúp Bệnh viện có những thông tin cụ thể về chi phí người bệnh phải chi trả trong điều trị hiếm muộn bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, từ đó có sự tư vấn tốt giúp người điều trị chuẩn bị tài chính cho quá trình điều trị được tối ưu.
Hồng Sơn
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 343

Số lượt truy cập: 9355884

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang