Những năm gần đây, trên thế giới có khoảng 7,6 triệu người tử vong do bệnh động mạch vành. Thống kê của Hội Tim mạch Việt Nam vào tháng 6/2010, cứ 3 người Việt Nam trưởng thành có 1 người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch; chủ yếu là bệnh động mạch vành.
Riêng đối với nhồi máu cơ tim cấp, tần suất bệnh ngày càng cao, tỉ lệ tử vong vào khoảng 30%, trong đó có khoảng một nửa số bệnh nhân chết trước khi kịp đến bệnh viện.

Các chuyên gia tim mạch lưu ý, tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với bệnh động mạch vành và số bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành có tăng huyết áp chiếm tỉ lệ khá cao. Đồng thời có sự khác biệt về triệu chứng lâm sàng cũng như cận lâm sàng trên những bệnh nhân này. Mục tiêu điều trị bệnh mạch vành là kéo dài thời gian sống và cải thiện triệu chứng lâm sàng. Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị bao gồm điều chỉnh những yếu tố nguy cơ, kiểm soát huyết áp, điều trị nội khoa bảo tồn và tái lưu thông động mạch vành bằng can thiệp mạch vành qua da. Tuy nhiên việc điều trị vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt tỉ lệ tử vong sau can thiệp mạch vành qua da tăng ở những bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ có tăng huyết áp. Việc điều trị bệnh động mạch vành trên bệnh nhân tăng huyết áp là vấn đề cần thiết do yêu cầu thực tiễn đặt ra.
Từ tháng 8/2016 đến tháng 4/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Viết An cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang, báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân bệnh động mạch vành kèm tăng huyết áp”. Đối tượng nghiên cứu là tất cả những bệnh nhân được chẩn đoán bệnh động mạch vành có tăng huyết áp điều trị tại khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Bệnh nhân gồm thiếu máu cơ tim im lặng; đau thắt ngực ổn định, nhồi máu cơ tim cũ; đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim không ST chênh lên và nhồi máu cơ tim có ST chênh lên và tăng huyết áp.
BS Trần Viết An báo cáo, trong 94 bệnh nhân động mạch vành có tăng huyết áp, nhóm tuổi từ 65 tuổi trở lên chiếm 74,5%. Nữ giới chiếm tỉ lệ 67% cao hơn so với nam giới; thời gian điều trị trung bình là 7,4 ngày.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, kết quả nghiên cứu, nhóm mắc bệnh động mạch vành mạn chiếm tỉ lệ 55,3% cao hơn so với nhóm mắc hội chứng vành cấp. Tỉ lệ bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp trong nhóm hội chứng vành cấp nhiều hơn 2 lần so với tỉ lệ bệnh nhân đau thắt ngực không ổn định (28,7% và 16%). Do vậy trong nghiên cứu, bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành mạn chiếm tỉ lệ cao hơn bệnh nhân mắc hội chứng vành cấp, trong đó thiếu máu cơ tim im lặng là thể lâm sàng chiếm tỉ lệ đáng kể, dễ bị bỏ sót. Tác giả nghiên cứu lưu ý cần phải phát hiện sớm, giảm những yếu tố nguy cơ tim mạch để hạn chế sự tiến triển của hội chứng vành cấp đe dọa tính mạng.
Về đặc điểm đau ngực, bệnh nhân có cơn đau thắt ngực điển hình có tỉ lệ cao hơn 2,5 lần so với đau thắt ngực không điển hình (45,7% so 18,1%). Đối với phân độ tăng huyết áp, phần lớn bệnh nhân có tăng huyết áp độ 2 và độ 3 (tỉ lệ 44,7% và 40,4%). Có 27 trường hợp nhồi máu cơ tim cấp, có 52% có ST chênh lên; Tác giả lý giải do số lượng bệnh nhân tham gia nghiên cứu ít, nhồi máu cơ tim không ST chênh lên chỉ nhiều hơn nhồi máu cơ tim có ST chênh lên một trường hợp; có thể cũng do trên đối tượng nghiên cứu mắc tăng huyết áp có sự biến đổi ST – T thứ phát, dấu hiệu tăng gánh áp lực, có hiệu trương phì đại thất trái nên dễ bị tổn thương ở nội tâm mạc, điều đó dẫn đến tỉ lệ nhồi máu cơ tim không ST chênh cao hơn.
Tác giả báo cáo, trong nghiên cứu ghi nhận qua siêu âm tim, hình thái giảm vận động vùng chiếm 30,8%, vô động chiếm 1,06% và không có trường hợp nào bị loạn động. Tác giả lưu ý giảm động là hình thái rối loạn vận động thường gặp trên siêu âm ở những bệnh nhân bệnh động mạch vành kèm tăng huyết áp.
Trong số 27 ca nhồi máu cơ tim cấp, giá trị trung vị của Troponin T-hs ở nhóm nhồi máu cơ tim có ST chênh lên là 1,31ng/mL cao hơn nhóm nhồi máu cơ tim không ST chênh lên là 0,43ng/mL. Kết quả chụp động mạch vành, có 61% bị hẹp động mạch liên thất trước; 52,8% hẹp động mạch vành phải. Tác giả lưu ý, động mạch liên thất là vị trí bị tổn thương nhiều nhất trong phần lớn các trường hợp. Trong nghiên cứu có 71,4% bệnh nhân bị tổn thương từ 2 nhánh động mạch vành trở lên. Sau điều trị, có 96,8% bệnh nhân thuyên giảm xuất viện, có 2 trường hợp do mạch vành hẹp nặng, can thiệp không giải quyết được chỗ hẹp nên bệnh viện được chuyển viện; có 1 ca tử vong sau can thiệp do nhồi máu cơ tim Killip 4, hẹp nặng và hẹp nhiều nhánh. Về triệu chứng sau điều trị, có 90% giảm đau ngực; 56,7% không còn đau nữa sau điều trị. Tỉ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu huyết áp cao hơn 3,5 lần so với nhóm không đạt mục tiêu huyết áp (77,4% so với 22,6%).
Anh Huy