Tuyến nước bọt có 3 đôi tuyến chính là tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi. Ngoài ra có hệ thống tuyến nước bọt phụ nằm rải rác dưới niêm mạc miệng. U nang tuyến nước bọt được chia là 2 loại u biểu mô tuyến và u biểu mô liên kết hoặc tổ chức khác.

Đối với khối u biểu mô tuyến, u lành chiếm hơn 60%; có 90% u lành tuyến mang tai. U lympho tuyến, u lympho tuyến nang (u warthin) chiếm 7%, chủ yếu gặp ở người trên 40 tuổi; nam nhiều hơn nữ. U mềm và căng, hiếm khi vượt quá 4cm. Đại thể là một nhân lớn, có các hốc chứa dịch màu nâu đỏ nhạt hoặc màu tím, có ranh giới rõ. U tế bào hạt có thể gặp thêm ở tuyến giáp, thận. U tế bào đáy (2%) chủ yếu ở tuyến mang tai, hay gặp ở tuổi 60. U là một nhân nhỏ, không đau, có vỏ bọc rõ, mật độ chắc, di động và nằm ở thùy nông của tuyến. Ngoài ra còn có nang tuyến; nang trong tuyến mang tai bẩm sinh; nang giả u tuyến nước bọt; u Godwin (lành tính).
U biểu mô tuyến loại ác tính có ung thư biểu mô tế bào trị; loại biểu mô không biệt hóa; loại dạng biểu bì, loại u đa hình thoái hóa ác tính, loại ung thư do căn trong tuyến.
Đối với khối biểu mô liên kết, loại u lành tính có u máu, u bạch mạch, u mỡ, u bao Schwann. Đối với loại ác tính có u lympho bào Hodgkin và non Hodgkin và giả u lympho; u tế bào mạch quanh mạch; ung thư mô liên kết tế bào sợi…
Theo các chuyên gia ung bướu, loại hay gặp trên lâm sàng là u hỗn hợp hay còn gọi là u tuyến đa hình (pleomorphic adenoma) tuyến nước bọt; u lành tính khu trú ở tuyến nước bọt chiếm tỷ lệ 90%; u ở tuyến mang tai chiếm 80-90%; còn 10% ở tuyến dưới hàm và tuyến nước bọt phụ. Bên phải gặp nhiều hơn với 66%.
U hỗn hợp là u có nguồn gốc biểu mô, tế bào biểu mô cơ. Tế bào này có vai trò trong việc hình thành sụn, xương cũng như các dạng hỗn hợp của nhiều khối u, vì vậy gọi là u hỗn hợp.
Trên lâm sàng, u hỗn hợp hay gặp nhóm 30-45 tuổi; đến khám bệnh với khối u hỗn hợp ở tuyến mang tai hay tuyến dưới hàm hoặc ở vòm miệng. Do u thường phát triển chậm, rất chậm từ vài năm, có khi tới 20 năm; thường phát hiện khi u đã lớn, ảnh hưởng chức năng hoặc thẩm mỹ. U lành tính nhưng dễ tái phát và có thể chuyển dạng ác tính nếu không phát hiện sớm và điều trị triệt để.
Giai đoạn đầu người bệnh không để ý, khi tự sờ thấy khối u nhỏ tuyến mang tai hay dưới hàm mới chú ý; đường kính khoảng 1cm, không đau, di động dễ. Vị trí đa dạng, có thể trước nắp tai, sau tai, dưới dái tai, cổ, cạnh hầu…U không gây đau, chắc, cứng, di động, màu da trên u bình thường.
Giai đoạn toàn phát, sau thời gian phát triển, u to dần lên, thấy gồ ghề, da tại chỗ căng mỏng màu sẫm hơn xung quanh. Sờ có giới hạn rõ, có múi, chắc, di động, ít dính vào tổ chức xung quanh. Có chỗ căng mỏng như nang dịch, có chỗ chứng chắc, có chỗ lại mềm. U có thể bằng hòn bi, quả quýt, quả cam.
Đối với u hỗn hợp tuyến dưới hàm dễ nhầm lao hạch, viêm xơ tuyến, u bao thần kinh.
Ở giai đoạn cuối, trong và thấy u thoái hóa ác tính, to nhanh, đau tự nhiên, đau lan trên tai và thái dương kèm ù tai, da bị thâm nhiễm nhưng hiếm gặp. Chẩn đoán thường kết hợp khám lâm sàng tỉ mỉ, xét nghiệm cận lâm sàng hỗ trợ, khẳng định bằng kết quả giải phẫu bệnh.
Đối với cận lâm sàng, thực hiện giải phẫu bệnh, chọc hút tế bào bằng kim nhỏ để chẩn đoán tế bào, kết quả lên đến 90%; tuy nhiên phải chọc chính xác vào u. Những trường hợp u ở sâu, cần có định vị bằng siêu âm.
Điều trị phẫu thuật là phương pháp duy nhất; cần phải phẫu thuật sớm và triệt để. Đối với tiên lượng, theo tác giả Ghosh và cộng sự có 6%, hầu hết tái phát trong 18 tháng đầu.
Trần Hưng