Một nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu thuốc và chẩn đoán thuộc Trường Y học nhiệt đới tại Liverpool (LSTM) đã đưa ra giải pháp giúp giảm thời gian điều trị cần thiết đối với bệnh giun chỉ bạch huyết và bệnh mù do giun chỉ từ nhiều tuần xuống còn 7 ngày điều trị.
Giải pháp được đưa ra là diệt vi khuẩn Wolbachia, một vi khuẩn cộng sinh mà ký sinh trùng giun chỉ cần có để sống, phát triển.
.jpg)
Giun chỉ là một trong những bệnh nhiệt đới bị lãng quên được ưu tiên loại trừ, phù hợp với việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của Liên hiệp Quốc đến năm 2030.
Tổ chức Y tế Thế giới, cơ quan Phát triển quốc tế của Hoa kỳ (USAID); Cục Phát triển quốc tế của Anh (UKDFID) đã có sự đồng thuận về mặt chuyên môn, cho rằng việc sử dụng thành công thuốc điều trị giun chỉ đồng loạt trên diện rộng hoặc sử dụng thuốc diệt vi khuẩn cộng sinh một cách thường xuyên sẽ đẩy nhanh việc loại trừ các bệnh giun chỉ bạch huyết và bệnh mù do giun chỉ.
Theo bài báo xuất bản trên Tạp chí PNAS, các nhà nghiên cứu cung cấp bằng chứng diệt vi khuẩn Wolbachia thông qua kết hợp thuốc điều trị giun sán Albendazole và thuốc kháng sinh. Gs Mark Taylor của LSTM, tác giả của bài báo nghiên cứu, cho rằng nhóm nghiên cứu đã sàng lọc tất cả các thuốc hiện có cho hoạt động tiêu diệt vi khuẩn Wolbachia; sự kết hợp giữa kháng sinh và thuốc chống giun sán như Albendazole đã làm ngạc nhiên lớn khi chúng hợp đồng với nhau làm giảm thời gian điều trị từ nhiều tuần xuống còn vài ngày, mở ra cơ hội mở rộng qui mô tiếp cận ở mức độ cộng đồng. Nhóm nghiên cứu cho rằng điều này rất có ý nghĩa đối với sức khỏe cộng đồng vì các loại thuốc được sử dụng như Rifampicin và Albendazole đã được đăng ký sử dụng. Các nhà nghiên cứu hy vọng với sự phối hợp thuốc như trên sẽ giảm được thời gian điều trị xuống còn 5 ngày hoặc ít hơn nữa đối với bệnh giun chỉ bạch huyết, từ đó giảm được chi phí điều trị cho người bệnh và hệ thống y tế địa phương.
Chúng ta biết rằng, bệnh giun chỉ bạch huyết còn gọi là bệnh phù chân voi, là bệnh ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng ở nhiều quốc gia nhiệt đới, cận nhiệt đới, trong đó có Việt Nam.
Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2013, có gần 1,4 tỷ người ở 73 quốc gia trên toàn cầu có nguy cơ nhiễm giun chỉ bạch huyết; có hơn 120 triệu người đang nhiễm bệnh; trong đó có 40 triệu người bị biến dạng và mất khả năng lao động do bệnh gây ra.
Tại Việt Nam báo cáo điều tra từ 1976 đến năm 2000 tại 10 huyện, tỉ lệ mắc bệnh giun chỉ bạch huyết ở miền Bắc là 2,5%; miền Trung theo dõi 20 huyện, tỉ lệ mắc là 0,39 – 13,3%. Sau năm 2000, điều tra tại 145 huyện của 50 tỉnh, thành phố có 77 trường hợp dương tính/gần 116.000 người được xét nghiệm tại 12 quận, huyện. Trong 12 quận, huyện này chỉ có 6 huyện có tỉ lệ phát hiện ấu trùng giun chỉ bạch huyết trên 1%; 6 huyện này được chọn vào dự án loại trừ giun chỉ bạch huyết tại Việt Nam. Bệnh thường gặp ở miền Bắc; ở miền Trung bệnh thường khu trú thành những điểm nhỏ ở thôn, xã. Phía Bắc chủ yếu vùng Châu thổ Sông Hồng, 5 tỉnh trọng điểm là Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình, Hưng Yên, Hòa Bình. Nam Trung Bộ có các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình và Khánh Hòa. Tỉ lệ mắc bệnh ở vùng đồng bằng 1 – 3%; vùng trung du 1 – 2%; vùng miền núi 0 – 1%; không có sự khác biệt giữa nam, nữ; bệnh nhiễm cao ở nhóm 30 – 40 tuổi.
Muỗi là trung gian truyền bệnh, các loại muỗi Culex, Anopheles; Aedes, Mansonia; Coquillettidia.
Đa số người bệnh nhiễm giun chỉ bạch huyết (có ấu trùng trong máu) nhưng không có biểu hiện lâm sàng trong nhiều năm hoặc cả đời. Thời kỳ ủ bệnh từ 4 tuần đến 16 tháng, đây là thời kỳ có khả năng truyền bệnh cao, do người bệnh không có triệu chứng để điều trị.
Chẩn đoán bệnh dựa vào dịch tễ, lâm sàng và xét nghiệm. Chẩn đoán xác định dựa vào xét nghiệm tìm ấu trùng giun chỉ ở máu ngoại biên.
Để phòng bệnh cần vệ sinh môi trường sạch sẽ, hạn chế muỗi vào nhà; lấy ao tù, nước đọng, giảm sự sinh sản muỗi, thả cá diệt bọ gậy. Khi lao động nhất là ban đêm cần tránh muỗi đốt; phát hiện và kịp thời điều trị bệnh kịp thời. Thực hiện tốt chương trình quốc gia phòng chống bệnh giun chỉ.
Phúc Nguyên