[Đăng ngày: 17/08/2016]
Tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh tim mạch ngày càng gia tăng ở nước ta đặc biệt khi tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên.
Nhồi máu cơ tim và các biến chứng liên quan đến nhồi máu cơ tim như đột tử, suy tim, rối loạn nhịp ngày càng trở nên phổ biến ở người cao tuổi và trở thành nguyên nhân chính gây tử vong tim mạch cho nhóm tuổi từ 80 trở lên. Song hành với sự thay đổi về mặt bệnh nhồi máu cơ tim, những tiến bộ về công nghệ thuốc, thiết bị can thiệp đã cho phép can thiệp nhồi máu cơ tim cấp ngày càng trở nên thường quy, an toàn và hiệu quả chấp nhận được cho dù độ tuổi của bệnh nhân tăng dần. Tuy nhiên có không ít các ca nhồi máu cơ tim cấp ở tuổi ≥ 80 đã không được can thiệp tốt vì những suy nghĩ cho rằng thuốc hay can thiệp không giúp ích gì cho đối tượng này thậm chí không ít bệnh nhân đã bị bỏ quên do có triệu chứng bệnh không điển hình.
Từ tháng 3-8/2013 tác giả Trần Anh Tuấn và Nguyễn Ngọc Quang. Bộ môn tim mạch – Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh nhồi máu cơ tim cấp trên 80 tuổi” với mục đích tổng kết các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh nhồi máu cơ tim cấp ở độ tuổi ≥ 80 cũng như tìm hiểu tỷ lệ tử vong trong viện do mọi nguyên nhân ở đối tượng này.
Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp vào Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai. Tiêu chuẩn chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp theo đồng thuận quốc tế 2012 bao gồm bối cảnh lâm sàng thiếu máu cơ tim, có tăng hoặc giảm dấu ấn sinh học (Troponin) trên ngưỡng kèm theo một trong các biểu hiện: triệu chứng lâm sàng bệnh tim thiếu máu cục bộ (đau thắt ngực hoặc giảm dung nạp với gắng sức); biến đổi điện tâm đồ (thay đổi ST-T hoặc xuất hiện bloc nhánh trái mới hoặc Q bệnh lý mới); bất thường vận động một vùng thành tim mới xuất hiện hoặc huyết khối trong lòng mạch vành trên phim chụp chọn lọc qua da.
Tiêu chuẩn loại trừ: nhồi máu cơ tim cấp xảy ra sau can thiệp mạch vành qua da hoặc sau mổ bắc cầu nối chủ vành; Tiền sử có các bệnh nội khoa nặng kèm theo làm giảm tỷ lệ sống còn của người bệnh; Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Về phân loại mức độ nặng của bệnh dựa vào phân độ Killip gồm 4 độ: I: không có bằng chứng suy tim; II: có suy tim (tiếng T3, ran ẩm – Hình ảnh tổn thương mạch vành được ghi nhận qua cách thức chụp và can thiệp mạch vành gồm loại hình tổn thương mạch vành trong nhồi máu cơ tim cấp, các biện pháp can thiệp (bóng, stent, thuốc phối hợp…)
Các biến cố chính liên quan đến nhồi máu cơ tim cấp được ghi nhận bao gồm tử vong do mọi nguyên nhân; tụt huyết áp và sốc tim; suy tim và phù phổi cấp; rối loạn nhịp trong thời gian nằm viện như bloc nhĩ thất cấp cao, nhịp nhanh thất, rung thất, xoán đỉnh.
Theo phân tích của Bs Nguyễn Ngọc Quang, tỷ lệ nhồi máu cơ tim ở người trên 80 tuổi khá cao chiếm 38,5% (65/169 trường hợp) với độ tuổi cao nhất lên đến 90, phần nào đã ảnh hường tình trạng già hóa của dân số với bệnh cảnh nhồi máu cơ tim cấp. Nhóm nhồi máu cơ tim cấp tuổi ≥ 80 của nghiên cứu có tỷ lệ nữ cao vọt, tỷ lệ các bệnh nội khoa đi kèm nhiều hẳn, tỷ lệ nhồi máu cơ tim cũ cao hơn song tỷ lệ đái tháo đường, một trong những nguy cơ hàng đầu của nhồi máu cơ tim lại thấp đi rõ rệt: điều này có thể giải thích do tuổi thọ ở nữ cao hơn nam giới và đối với người cao tuổi, biến cố do nhồi máu cơ tim cấp chỉ là một phần nhỏ so với các biến cố bệnh lý nội khoa khác thường gặp ở nhóm tuổi này. Các yếu tố nguy cơ khác như hút thuốc, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, quá cân béo phì không có gì khác biệt giữa 2 nhóm đối tượng bệnh nhân nhồi máu cơ tim dù tuổi trên hay dưới 80.
Đa số (97%) người bệnh nhồi máu cơ tim trong nghiên cứu này đều có khởi phát bằng đau hay tức ngực, tuy nhiên đối với nhóm ≥80 tuổi, các biểu hiện này thường ít điển hình, hướng lan không rõ ràng, triệu chứng khó thở cũng gặp ít hơn. Có lẻ chính với bệnh cảnh lâm sàng ít rõ ràng, khá giống với các bệnh cảnh đau ngực không cấp tính từ trước, nên đối tượng nhồi máu cơ tim ở độ tuổi≥80 này đã không tới ngay bệnh viện để phát hiện nhồi máu cơ tim cấp: không có bệnh nhân tới viện trong vòng 6 giờ kể từ khi khởi phát. Trong khi đó, nhồi máu cơ tim cấp, nhóm bệnh nhân ≥80 tuổi này thường có biểu hiện suy tim nặng nề hơn (độ killip cao hơn, phân suất tống máu thấp hơn, tỷ lệ xuất hiện suy tim cấp khi điều trị cao hơn), tổn thương mạch vành cũng nặng hơn và tử vong nhiều hơn. Rõ ràng đối tượng ≥80 tuổi cần được theo dõi sát và giáo dục truyền thông tốt hơn để có thể phát hiện sớm và hạn chế các diễn biến nặng như suy tim khi bị nhồi máu cơ tim cấp, bs Quang lưu ý.
Đối với nhồi máu cơ tim cấp, can thiệp động mạch vành qua đường ống thông là lựa chọn hàng đầu nhất là đối với những nhóm có nguy cơ biến chứng cao khi dùng tiêu sợi huyết như tuổi cao, các bệnh lý nội khoa phối hợp nhiều. Nguyên tắc chính khi tái thông mạch vành ở người nhồi máu cơ tim cấp là mở thông càng sớm càng tốt để cứu vãn tối đa cơ tim, kéo dài tuổi thọ và hạn chế suy tim. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dù tỷ lệ tử vong ở nhóm nhồi máu cơ tim cấp ≥80 tuổi cao hơn hẳn nhóm tuổi <80, can thiệp mạch vành qua đường ống thông vẫn làm giảm tỷ lệ tử vong so với điều trị nội khoa và đối với người nhồi máu cơ tim cấp ≥ 80 tuổi, can thiệp mạch vành dù đến muộn hơn 24 giờ không làm gia tăng tỷ lệ tử vong so với đến sớm trong vòng 24 giờ.
Bs Nguyễn Ngọc Quang phân tích, kết quả hồi quy logistic dự báo tử vong của nghiên cứu này chỉ cho thấy ảnh hưởng thực sự của can thiệp đến tử vong ở nhóm nhồi máu cơ tim cấp có tuổi < 80, p<0,05 trong khi tác động này mất đi ở nhóm tuổi ≥ 80, p>0,05. Do tính chất quan sát mô tả với cỡ mẫu chưa đủ lớn và khả năng tồn tại của các sai số chọn mẫu ngẫu nhiên (ví dụ bệnh nhân nhồi máu cơ tim tuổi cao nặng dễ bị để lại nhà không nhập viện) nên nghiên cứu chưa thể tìm được các yếu tố tiên lượng thực sự đến tử vong do nhồi máu cơ tim ở nhóm tuổi này. Tỷ lệ tử vong chung trong nhóm được can thiệp chỉ có 3,0%, gần như tăng gấp đôi 7,5% ở nhóm tuổi ≥ 80, song cũng không khác biệt nhiều so với tỷ lệ tử vong chung khi sử dụng tiêu sợi huyết. Điều này cho thấy nếu lựa chọn hợp lý, can thiệp cho nhồi máu cơ tim cấp ở bệnh nhân tuổi ≥ 80 vẫn khả thi và an toàn ở mức chấp nhận được. Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ là tổng kết ngắn hạn trong viện và còn cần các nghiên cứu dài hơn để đánh giá hiệu quả của can thiệp trên các đối tượng dễ tổn thương này.
Bs Nguyễn Ngọc Quang kết luận, nguời bị nhồi máu cơ tim cấp trên 80 có các đặc điểm đáng chú ý như sau: bệnh cảnh thường gặp hơn ở giới nữ, tỷ lệ mắc đái tháo đường ít hơn, tỷ lệ nhồi máu cơ tim cũ và bệnh phối hợp cao hơn, tình trạng huyết động khi vào viện nặng hơn, chức năng thất trái kém, tỷ lệ  được chụp và tái thông bằng can thiệp thấp hơn, suy tim và tử vong cao hơn hẳn nhóm nhồi máu cơ tim dưới 80 tuổi. Dù đều khởi phát bằng đau hay tức ngực, triệu chứng đau ngực ở nhóm ≥ 80 tuổi thường ít điển hình, không rõ hướng lan, ít kèm theo khó thở và có xu hướng đến viện muộn. Can thiệp mạch vành qua đường ống thông giảm đáng kể tỷ lệ tử vong do nhồi  máu cơ tim ở người trên 80 tuổi và không gia tăng tỷ lệ tử vong nếu can thiệp ở nhóm đến muộn sau 24 giờ so với nhóm đến sớm trong vòng 24 giờ đầu: tử vong chung với nhồi máu cơ tim cấp ở độ tuổi ≥80 là 12,3% ở nhóm không can thiệp mạch vành.
 Mặc dù tử vong ở nhóm nhồi máu cơ tim cấp tuổi trên 80 cao hơn đáng kể so với nhóm tuổi dưới 80, song nếu lựa chọn hợp lý, can thiệp là biện pháp điều trị an toàn, khả thi và có hiệu quả ở người > 80 bị nhồi máu cơ tim cấp.
 Kết quả nghiên cứu cho thấy những đặc thù cần chú ý ở nhóm nhồi máu cơ tim trên 80 tuổi và nhấn mạnh đến tính an toàn cũng như hiệu quả của can thiệp động mạch vành cấp qua da cho các đối tượng bệnh nhân này.
                                            Hữu Cao
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 267

Số lượt truy cập: 9361314

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang