[Đăng ngày: 12/08/2016]
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng lymphôm hệ thần kinh trung ương là đề tài được các nhà lâm sàng quan tâm.
Lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương là một loại u ác tính, hiếm gặp, chiếm khoảng 1,4% của tất cả các khối u não nguyên phát và 0,7% - 1,5% của tất cả các lymphôm không Hodgkin.
Triệu chứng lâm sàng của lymphôm não không chuyên biệt nên việc chẩn đoán phân biệt với u thần kinh đệm, u nguyên phát khác ở não gặp nhiều khó khăn. Bệnh nhân thường đến bệnh viện muộn dẫn đến chẩn đoán trễ hay chẩn đoán không chính xác, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Trong hai thập kỷ qua số lượng các trường hợp mắc bệnh và tử vong gia tăng hàng năm. Hiện nay, sự phát hiện sớm u bằng hình ảnh học, định danh u bằng hóa mô miễn dịch trên các mẫu bệnh phẩm đã đưa đến kết quả điều trị tốt, ngăn chặn tiến xa của bệnh.
Các tác giả nghiên cứu Trần Minh Thông, Huỳnh Thị Thùy Trang khoa Giải phẫu bệnh Bệnh viện Chợ Rẫy tiến hành nghiên cứu “Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học, giải phẫu bệnh 52 trường hợp lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương”.
Đối tượng nghiên cứu là người bệnh được chẩn đoán lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương, hồ sơ có CT scan hoặc MRI, kết quả giải phẫu bệnh là lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương. Thời gian từ tháng 01/2002 – 02/2012 tại bệnh viện Chợ Rẫy.
Theo báo cáo của tác giả nghiên cứu Trần Minh Thông, lý do khiến bệnh nhân đi khám và nhập viện chủ yếu là đau đầu (28 trường hợp), kế đó là yếu nửa người (14 trường hợp).
Trong 52 ca, thời gian từ lúc khởi phát bệnh đến khi nhập viện trung bình là 43,78 ngày, ngắn nhất là 2 ngày, dài nhất là 1 năm.
Đối với triệu chứng lâm sàng thường gặp: đau đầu 86,54%; kế đến là nôn ói 42,3%; yếu nửa người 40,38%. Triệu chứng ít gặp: cổ gượng, nhìn đôi, sụp mi 1,92%. 8 người bệnh có 1 triệu chứng, triệu chứng thường gặp là đau đầu. 28 người bệnh có 2 triệu chứng, triệu chứng thường gặp nhất là đau đầu, nôn ói; kế đến là đau đầu, yếu nửa người. 26 người bệnh có trên 3 triệu chứng, triệu chứng thường gặp nhất là đau đầu, nôn ói, chóng mặt. 23 người bệnh có triệu chứng của tăng áp lực nội sọ 44,23%.
Đối với vị trí u, vị trí thùy thái dương chiếm tỷ lệ cao nhất 19,75% (16 trường hợp), tiếp theo là thùy trán chiếm 16,05% (13 trường hợp), chiếm tỷ lệ thấp nhất là thùy trán – đỉnh, thùy đỉnh – chẩm – thái dương và tuyến tùng 1,23% (1 trường hợp).
Vị trí trên lều chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với vị trí dưới lều (88,89% so với 11,11%). Lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương trên lều: vị trí thùy thái dương chiếm 19,75%, kế đến là thùy trán 16,05%, thùy đính 12,34%, não thất bên 11,13%, thể chai 7,41%, thùy chẩm 4,94%, đồi thị 4,94%, tuyến yên 3,7%, não thất III 2,47%, tuyến tùng 1,23%. Lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương dưới lều: vị trí tiểu não chiếm 7,41%, não thất IV 3,7%, tủy sống 0%.
Tỷ lệ đơn ổ và đa ổ của u, trong 52 người bệnh có 28 người bệnh là đơn ổ chiếm 53,85%, có 24 người bệnh là đa ổ, chiếm 46,15%.
Về kích thước trung bình của u, lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương có kích thước trung bình là 3,77 ± 1,6 cm; lớn nhất là 8,5 cm, nhỏ nhất là 1,3 cm.
Về đặc điểm giải phẫu bệnh, hầu hết là lymphôm tế bào B lớn lan tỏa. Theo kết quả nghiên cứu ở 52 người bệnh lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương thì 52 người bệnh đều là lymphôm tế bào B lớn lan tỏa, chiếm 100%.
Đối với mối tương quan giữa lâm sàng và vị trí u, sự tương quan giữa vị trí u và triệu chứng lâm sàng có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Vùng trán, triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là đau đầu (84,61%), nôn ói (53,85%), yếu nửa người (46,15%). Tuy nhiên, sự tương quan này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05, triệu chứng liệt mặt chiếm 23,07% với p = 0,016 < 0,05, có ý nghĩa thống kê. Ở tiểu não, triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là đau đầu (83,33%), nôn ói, chóng mặt, nói khó (33,33%) và hội chứng tiểu não (33,33%). Sự tương quan giữa vùng tiểu não và hội chứng tiểu não có ý nghĩa thống kê với p = 0,012 < 0,05. Ở tuyến yên triệu chứng nhìn đôi, sụp mi tương quan có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Tác giả Trần Minh Thông lưu ý bệnh này có hơn 120 tên gọi trong bảng phân loại của WHO 2007. U hệ thần kinh trung ương thường có hình thái mô học rộng và sự xếp loại dựa trên hình thái từng mô học có tính chất đặc biệt riêng của mô u. Phương pháp hóa mô tế bào miễn dịch có thể cần để chứng minh những kháng nguyên của mô u trên những loại tế bào đặc biệt. Để xếp loại là rất khó vì không có một kháng thể nào để có thể phân biệt rõ ràng các loại mô u. Sự hiện diện hay vắng mặt kháng nguyên có thể thêm thông tin giúp ích cho sự chẩn đoán mô u. Để khảo sát lymphô nguyên phát hệ thần kinh trung ương người ta sử dụng hóa mô miễn dịch với marker là CD3, CD20, CD45, Ki67. Trong nghiên cứu của tác giả Trần Minh Thông, 100% là lymphôm tế bào B lớn lan tỏa./.
                                            Hồng Sơn
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 266

Số lượt truy cập: 9361313

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang