{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Nghiên cứu đặc điểm u tế bào mầm ác tính
[Đăng ngày: 31/08/2016]
U tế bào mầm (UTBM) buồng trứng là những u xuất nguồn từ các tế bào có nguồn gốc mầm bào (germ cell) tại các thời điểm biệt hóa khác nhau ở buồng trứng.
Những u này được coi là sự chuyển dạng bệnh lý của các tế bào mầm tại buồng trứng, là nhóm u phổ biến thứ hai trong các u buồng trứng chỉ sau các u biểu mô – mô đệm bề mặt. UTBM chiếm khoảng 30% toàn bộ các u buồng trứng nguyên phát, gặp ở mọi lứa tuổi, UTBM ác tính chiếm khoảng 1-2% trong các u ác tính của buồng trứng.
Mặc dù UTBM buồng trứng ác tính chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với các UTBM khác nhưng lại hay gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên, độ ác tính, khả năng xâm lấn cao, ảnh hưởng lớn tới tỷ lệ tử vong và khả năng sinh đẻ sau này. Tuy nhiên, việc điều trị, tiên lượng bệnh UTBM buồng trứng ác tính khác với nhóm UTBM biểu mô buồng trứng, thậm chí ngay giữa các typ mô bệnh học UTBM buồng trứng khác nhau cũng có phát đồ điều trị và tiên lượng khác nhau. Việc chẩn đoán chính xác các typ mô bệnh học UTBM về mặc vi thể có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp điều trị và đánh giá tiên lượng bệnh.
Một trong những khó khăn trong chẩn đoán MBH các UTBM là các u này thường có sự phối hợp nhiều typ mô học, trong mỗi typ mô học cũng có nhiều mẫu mô học khác nhau do đó trong một số trường hợp chỉ dựa vào chẩn đoán MBH thường quy không thể khẳng định chính xác typ MBH của u cũng như phân biệt u nguyên phát hoặc di căn mà phải dựa vào một số kỹ thuật bổ trợ khác như: Hóa mô miễn dịch, gen học … trong đó hóa mô miễn dịch đóng vai trò quan trọng nhất.
Từ năm 2009 đến tháng 12/2012, TS Lê Trung Thọ cùng cộng sự Đại học Y Hà Nội tiến hành đề tài nghiên cứu “Đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch một số u tế bào mầm ác tính”. Nghiên cứu nhằm hai mục tiêu: (1) Mô tả một số đặc vi thể của UTBM buồng trứng ác tính thường gặp tại bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện K Hà Nội và bệnh viện Phụ Sản Trung ương. (2) Tìm hiểu giá trị của một số dấu ấn miễn dịch trong chẩn đoán UTBM ác tính của buồng trứng.
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là tất cả các trường hợp UTBM buồng trứng được phẫu thuật tại 3 bệnh viện có đủ tiêu chuẩn chọn mẫu. Kết quả nghiệm MBH sau mổ khẳng định là UTBM ác tính. Còn các khối nến có đủ bệnh phẩm để chẩn đoán MBH và HMMD.
Tiêu chuẩn loại trừ: Các trường hợp UTBM ác tính thiếu 1 trong các tiêu chuẩn lựa chọn ở trên. Các trường hợp UTBM tái phát hoặc các trường hợp có hình thái vi thể của u UTBM nhưng không xác định được vị trí u nguyên phát hoặc những trường hợp có ung thư thứ hai.
Theo báo cáo của TS Thọ, kết quả nghiên cứu cho thấy u quái không trưởng thành chiếm tỷ lệ cao nhất 38,7%, tiếp đến u túi noãn hoàng 31,8%, thấp nhất là UTBM hỗn hợp (6,8%), u nghịch mầm chiếm 22,7%.
TS Thọ phân tích, về u quái không trưởng thành: các thành phần tương tự u quái nang nhưng chiếm tần suất cao hơn và có đủ các thành phần của cả ba lá thai trong một u quái, hơn nữa các thành phần này thể hiện sự trưởng thành ở các mức độ khác nhau. Các thành phần của cả ba lá thai gặp ở 100% u quái không trưởng thành. Thành phần ngoại bì luôn luôn gặp là thần kinh đệm không trưởng thành và ống thần kinh nguyên thủy (100%), biểu mô vảy không sừng hóa hoặc da và phụ thuộc da gặp trong 94,1% trường hợp. Trung bì, các thành phần tương tự u quái nang trưởng thành nhưng xuất hiện với tần suất cao hơn từ 70,6% (cơ trơn) đến 100% (xơ, mỡ), trung mô không trưởng thành (100%). Thành phần nội bì thường gặp nhất vẫn là biểu mô đường hô hấp (100%), ruột (94,1%), các thành phần khác ít gặp, thảnh phần nội bì không trưởng thành như tuyến không trưởng thành, biểu mô đường tiêu hóa có thể chế tiết AFP huyết thanh và nhuộm HMMD dương tính với dấu ấn này.
Tác giả cũng lưu ý, nhiều nghiên cứu chỉ ra, một mình các mô loại bào thai (trung mô không trưởng thành) là không đủ cho một chẩn đoán của u quái không trưởng thành. Mô đệm trung mô không trưởng thành giàu tế bào và bao gồm các tế bào hình thoi nhỏ, nhân sẫm màu, nhân chia thường thấy. Sụn thường hiện diện trong u quái không trưởng thành và có thể khó để xác định nó là trưởng thành hay không. Khi có nhiều hốc sụn chứa các tế bào sụn nhỏ và các ổ biệt hóa dạng sụn được bao quanh bởi các tế bào trung mô tròn, nhỏ, không trưởng thành, chúng được coi là sụn không trưởng thành.
Nhiều tác giả nghiên cứu nhấn mạnh, việc tìm thấy trung mô không trưởng thành trong u quái có ý nghĩa gợi ý nên kiểm tra lấy mẫu thêm để tìm thành phần biểu mô thần kinh. Thành phần ngoại bì thần kinh không trưởng thành dễ nhận biết và đánh giá nhất. Chúng bao gồm các đám tế bào ngoại bì thần kinh không trưởng thành, hoạt động nhân chia, các tuyến và ống được lợp bởi các tế bào phôi hình trụ với nhân xếp thành tầng, tăng sắc, các đám và ổ nguyên bào thần kinh chứa vùng sợi cạnh nhân, Homer Wright rosettes, thần kinh đệm không trưởng thành hoạt động nhân chia mạnh và võng mạc nguyên thủy nhiễm sắc tố melanin. Heifetz S A gợi ý chỉ dùng loại mô thần kinh là: ống thần kinh nguyên thủy và hoa hồng không trưởng thành để chia độ u quái.
TS Lê Trung Thọ kết luận, qua nghiên cứu 44 trường hợp UTBM ác tính tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện K Hà Nội và Bệnh viện Phụ sản Trung ương gồm: (1)Về đặc điểm đại thể và vi thể của UTBM buồng trứng: UTBM nguyên thủy: nhóm này có đặc trưng chung là tế bào u đa hình thái, thường có cấu trúc dạng lưới, vi nang, hoạt động nhân chia cao. U nghịch mầm đặc trưng bởi các ổ hoặc dây các tế bào đa diện, lớn, đơn dạng ngăn cách nhau bởi vách xơ kèm các lympho bào. U túi noãn hoàng có thể thấy các mẫu mô học: vi nang, xoang nội bì, đặc, hốc-tuyến, đa túi noãn hoàng, xơ nhầy, nhú, nang lớn, dạng gan và tuyến hoặc nội bì. Các thành phần của cả ba lá thai gặp ở 100% u quái không trưởng thành. Thành phần ngoại bì thần kinh không trưởng thành gồm các đám tế bào ngoại bì thần kinh không trưởng thành, hoạt động nhân chia, các tuyến và ống được lợp bởi các tế bào phôi hình trụ với nhân xếp thành tầng, tăng sắc, các đám và ổ nguyên bào thần kinh chứa vùng sợi cạnh nhân, Homer Wright rosettes, thần kinh đệm không trưởng thành hoạt động nhân chia mạnh và võng mạc nguyên thủy nhiễm sắc tố melanin. (2)Giá trị của một số dấu ấn miễn dịch trong chẩn đoán UTBM ác tính của buồng trứng: Dựa trên các đặc điểm vi thể, kết hợp với một số dấu ấn có thể giúp chẩn đoán chính xác một số typ UTBM ác tính. Dấu ấn PLAP, CD 117 và AFP có giá trị để chẩn đoán các u nghịch mầm vì tỷ lệ dương tính mạnh từ 60% đến 100%. Dấu ấn AFP và PLAP có giá trị chẩn đoán các u túi noãn hoàng với tỷ lệ dương tính mạnh (tương ứng 100% và 64,3%). Các dấu ấn PLAP, AFP và CD 117 hữu ích trong chẩn đoán các UTBM hỗn hợp./.
Nguyên Khải
Chi tiết
Các tin khác
17/08/2016:
Nghiên cứu nhồi máu cơ tim cấp người trên 80 tuổi
16/08/2016:
Đặc điểm vi khuẩn gây bệnh viêm thận bể thận cấp
12/08/2016:
Đặc điểm lâm sàng lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương
10/08/2016:
Thang điểm tiên lượng biến cố sớm sau can thiệp mạch vành
07/08/2016:
Những khuyến nghị để đánh giá bệnh nhân sau can thiệp mạch vành
02/08/2016:
Tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ
01/08/2016:
Giá trị tiên lượng thụ tinh trong ống nghiệm
31/07/2016:
Nghiên cứu bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở người cao tuổi
28/07/2016:
Đặc điểm hành vi phạm tội ở người sử dụng rượu
27/07/2016:
Đặc điểm triệu chứng bệnh nhân Basedow mang thai
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
400
Số lượt truy cập:
9365661
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa