[Đăng ngày: 16/08/2016]
Viêm thận bể thận là tình trạng nhiễm khuẩn tiết niệu cao (NKTN), thể hiện trên lâm sàng với nhiều hình thái khác nhau.
Bệnh khởi phát do các nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi khác nhau gây nên. Mặt khác, do chỉ định quá rộng rãi các thủ thuật như nội soi tiết niệu, đặt sonde bàng quang, thủ thuật sản khoa hay việc sử dụng bừa bãi các chế phẩm có corticoid cũng là những yếu tố nguy cơ thường gặp, gây tình trạng nhiễm khuẩn dai dẳng rất khó điều trị khỏi. Viêm thận bể thận cấp (VTBTC) là một cấp cứu nội khoa, có nhiều biến chứng và cần phải điều trị nội trú. Những trường hợp VTBTC không được điều trị đúng thường bị tái phát và có nguy cơ dẫn đến viêm thận bể thận mạn và suy thận.
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu đề cập đến nhiễm khuẩn tiết niệu ở trẻ em và người lớn, đặc biệt là phụ nữ có thai, bệnh nhân hồi sức có đặt ống thông bàng quang, bệnh nhân đái tháo đường, u phì đại lành tính tuyến tiền liệt, nhiễm khuẩn trong bệnh viện và cả ngoài cộng đồng. Các vi khuẩn gây bệnh đường tiết niệu được biết đến chủ yếu là các vi khuẩn gram (-), đặc biệt E.coli chiếm tỷ lệ cao tới 85%.
Tình trạng sử dụng kháng sinh rộng rãi hiện nay là vấn đề chính gây hiện tượng đề kháng kháng sinh. Có thêm nhiều chủng kháng sinh mới xuất hiện. Các vi khuẩn đề kháng nhiều hơn với các kháng sinh nhóm beta lactamase, quinolon, cotrimoxazol …, vì vậy việc điều trị khó khăn hơn và có nguy cơ xuất hiện các biến chứng. Việc xác định sớm các loại vi khuẩn gây bệnh và các yếu tố nguy cơ gây VTBTC là rất cần thiết để điều trị tốt cho các bệnh nhân này.
Nhóm tác giả nghiên cứu Đặng Thị Việt Hà cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành đề tài nghiên cứu “Đặc điểm vi khuẩn gây bệnh và các yếu tố thuận lợi của viêm thận bể thận cấp”. Đối tượng nghiên cứu là 103 bệnh nhân được chẩn đoán VTBTC điều trị nội trú tại Khoa Thận tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai. Tuổi > 16. Tiêu chuẩn chẩn đoán VTBTC: Sốt, rét run, đau hông lưng, đái buốt, đái rắt, đái đục. Kết quả xét nghiệm nước tiểu: có BC niệu, có thể có vi khuẩn niệu.
Các đối tượng nghiên cứu được tiến hành hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng toàn diện: phát hiện các hội chứng nhiễm trùng, hội chứng bàng quang, dấu hiệu đau hông lưng, đau quặn thận … Khám phát hiện thận to, vỗ hông lưng, điểm đau niệu quản, thăm trực tràng … Các xét nghiệm được thực hiện: công thức máu, đông máu cơ bản, ure, creatinin, điện giải đồ, CRP, procalcitonin, cấy máu, tổng phân tích nước tiểu, tế bào niệu, cấy nước tiểu. Các thăm dò chức năng và chẩn đoán hình ảnh: siêu âm ổ bụng, X quang hệ tiết niệu, chụp cắt lớp vi tính nếu có chỉ định.
Theo phân tích của tác giả Đặng Thị Việt Hà, độ tuổi trung bình của nam và nữ là 44,5 tuổi. Tỷ lệ VTBTC gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi 20-45 (52,4%), trong nhóm này tỷ lệ nữ giới cao gấp 5 lần nam giới. Các nghiên cứu khác đều cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu gia tăng một cách đáng kể ở độ tuổi hoạt động tình dục và sinh đẻ.
Vi khuẩn niệu dương tính là một yếu tố chắc chắn cho chẩn đoán viêm thận bể thận và nhiễm khuẩn tiết niệu nói chung. Tuy nhiên, tiêu chuẩn này trên thực tế chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố liên quan như thời điểm nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu, kỹ thuật lấy mẫu bệnh phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật của từng labo … đặc biệt là tiền sử sử dụng kháng sinh trước đó của người bệnh vì vậy tỷ lệ cấy nước tiểu dương tính có thể khác nhau theo từng tác giả. Trong 103 bệnh nhân có biểu hiện VTBTC trên lâm sàng thì có 34 bệnh nhân cấy nước tiểu (+) chiếm tỷ lệ là 33%. Cấy máu (+) ở 24,69% bệnh nhân có sốt.
Trong nghiên cứu các vi khuẩn phân lập được chủ yếu là các trực khuẩn Gram âm, đứng đầu là E. coli với 64,7%, đây là tác nhân gây bệnh chủ yếu phù hợp với y văn và các nghiên cứu khác. Đứng thứ 2 là Pseudomonas aeruginosa (8,8%) và Serratia marcescens (8,8%). Trong số 34 bệnh nhân có cấy nước tiểu (+) thì có 10 bệnh nhân (23,5%) có bài tiết ESBL(+) chứng tỏ hiện tượng đề kháng kháng sinh tương đối cao. Các vi khuẩn gây bệnh nhạy cảm với carbapenem còn chiếm tỷ lệ cao 88,23%, tiếp theo là nhạy với quinolon chỉ ở mức 76,47%, cephalosporin thế hệ 3: 73,33% và còn nhạy cảm không nhiều với nhóm betalactamase và các kháng sinh khác. Tình trạng đề kháng kháng sinh và kém nhạy cảm với các kháng sinh thông dụng có thể do việc sử dụng kháng sinh rộng rãi tự phát gây nên.
Tác giả nghiên cứu lưu ý kết quả cho thấy có loại vi khuẩn đặc hiệu chỉ có trong nhiễm khuẩn bệnh viện ít nguy hiểm hơn đó là Acinobacter baumanii xuất hiện với tỷ lệ thấp là 1/34 trường hợp (2,9%).
Kết quả nghiên cứu có xuất hiện hai chủng vi khuẩn hiếm gặp là Burkhoderia cepacia và Serratia marcescens mà tài liệu trong và ngoài nước chưa thấy tác giả nào nhắc đến. Phải chăng việc sử dụng kháng sinh rộng rãi gây đề kháng kháng sinh và làm xuất hiện những chủng vi khuẩn mới. Cần phải có các nghiên cứu lớn hơn để làm rõ vấn đề này, BS Hà lưu ý.
Qua nghiên cứu thấy 37 bệnh nhân có biến chứng. Đây là hậu quả của VTBTC đến muộn. Những biến chứng này cũng đã được báo cáo trước đó. Tình trạng nhiễm khuẩn kéo dài ảnh hưởng đến chức năng thận, góp phần thúc đẩy tình trạng suy thận. Kết quả nghiên cứu cho thấy biến chứng hay gặp nhất là suy thận cấp với tỷ lệ 45,9% và 35,2% có biến chứng ứ nước thận, trong đó 10 trường hợp có sỏi tiết niệu. Nhiễm khuẩn huyết gặp 16,2%. Một trường hợp cấy nước tiểu âm tính nhưng vẫn có nhiễm khuẩn huyết và 1 trường hợp vừa có nhiễm khuẩn tiết niệu vừa có nhiễm khuẩn huyết. Trong nghiên cứu, bệnh nhân VTBTC có yếu tố thuận lợi chiếm tỷ lệ 75,7%. Tỷ lệ cao nhất là sỏi tiết niệu 56,4%. Trong số các bệnh nhân cấy nước tiểu có E. coli thì 47% có sỏi tiết niệu. Việc điều trị dứt điểm và dự phòng sỏi tái phát rất quan trọng để giảm tỷ lệ VTBTC do E. coli. Những yếu tố khác chiếm tỷ lệ thấp hơn là tình trạng thai nghén với 32% và bất thường giải phẫu đường tiết niệu với 16,7%. Các bất thường giải phẫu đường tiết niệu mà nghiên cứu gặp là thận đa nang, hội chứng khúc nối bể thận niệu quản, và các trường hợp bệnh nhân chỉ còn một thận. Tỷ lệ bệnh nhân có can thiệp thủ thuật, phẫu thuật đường tiết niệu là 6,4%. Trong số đó có 2,6% bệnh nhân đặt sonde niệu quản và 3,8% bệnh nhân mổ lấy sỏi thận, sỏi niệu quản. Tiền liệt tuyến là yếu tố quan trọng liên quan đến nhiễm khuẩn tiết niệu ở nam giới. Tuyến tiền liệt phì đại gây cản trở dòng nước tiểu, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển./.
                                        Nghi Anh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 264

Số lượt truy cập: 9361312

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang