[Đăng ngày: 16/05/2017]
Ung thư vú là nhóm bệnh phức tạp, không đồng nhất về lâm sàng, hình thái học và mức phân tử. Các khối u vú với hình ành mô học tương tự nhau, biểu hiện lâm sàng, mức độ ác tính và đáp ứng với điều trị trái ngược nhau.
Từ tháng 01/2012 đến tháng 6/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Chủ- Bệnh viện K, Lê Đình Roanh- Trung tâm nghiên cứu và phát hiện sớm ung thư cùng các cộng sự đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Sự bộc lộ một số dấu ấn hóa mô miễn dịch trong thư thư vú “bộ ba âm tính”.
Phenotype bộ ba âm tính gồm tất cả các ung thư vú không bộc lộ ER, PR và HER2 và 98% khối u có độ mô học 3. Nhóm u bộ ba âm tính biểu hiện lâm sàng ác tính và hạn chế trong lựa chọn điều trị; không được điều trị nhắm trúng đích dựa vào HER2. Sự ác tính của u bộ ba âm tính thể hiện vì sự tái phát của bệnh trong 1-3 năm và phần lớn chết trong vòng 5 năm đầu sau điều trị. Hiện tại các bệnh nhân này chỉ điều trị hóa chất, thường kém nhạy với taxane. Các thử nghiệm lâm sàng điều trị bởi các thuốc carboplatin, cisplatin và docetacel để điều trị các u bộ ba âm tính giai đoạn muộn. có 85% các u bộ ba âm tính dạng ung thư biểu mô dạng đáy, với đặc trưng độ mô học cao, hoại tử rộng, giới hạn rõ và phản ứng lympho từ nhẹ tới vừa. Các nghiên cứu cho thấy các u bộ ba âm tính không bộc lộ CK typ đáy 5/6 hoặc EGFR hoặc CK17. Ở ung thư biểu mô dạng đáy có tỷ lệ đột biến p53 cao và phổ biến ở những bệnh nhân có BRCA1.
Theo TS.Nguyễn Văn Chủ, đề tài nghiên cứu nhằm 02 mục tiêu (1) Đánh giá tỷ lệ sự bộc lộ dấu ấn CK5/6, CK17, p63, EGFR, p53 và Ki67 trong ung thư vú bộ ba âm tính,(2) nhận xét mối liên quan giữa ung thư biểu mô tuyến vú bộ ba âm tính, typ dạng đáy và một số đặc điểm giải phẫu bệnh.
Có 103 bệnh nhân nữ ung thư vú bộ ba âm tính tham gia nghiên cứu; bệnh nhân được phẫu thuật cắt tuyến vú, vét hạch; có khối u nguyên phát và chưa được điều trị hóa chất trước mổ cắt u; có chẩn đoán mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập. Các bệnh phẩm ung thư vú được phẫu tích đo đường kính lớn nhất; mỗi khối u lấy từ 2-3 mảnh, dày 2-3mm, 1-2 cm2. Độ mô học được phân loại dựa vào hệ thống Bloom-Richardson, cải biên bởi Elston và Ellis (1991).
Theo phân tích của tác giả nghiên cứu, phân typ phân tử ung thư vú với các dấu ấn hóa mô miễn dịch thay thế là phân tích gen đang được sử dụng rộng rãi. Ung thư vú được chia thành các typ chính là lòng ống A, lòng ống B, týp HER2 và týp dạng đáy. Sự chia nhóm này giúp đánh giá sự đáp ứng với điều trị, tiên lượng, thời gian sống thêm của bệnh ung thư vú.
Theo TS.Chủ, kết quả nghiên cứu cho thấy có 103/493 (20,8%) bệnh nhân ung thư vú không bộc lộ với ER,PR và HER2- phenotyp bộ ba âm tính. Qua phân tích kết quả hóa mô miễn dịch xác định được typ dạng đáy chiếm 17,2%, týp không phải dạng đáy chiếm tỷ lệ 3,6%. Trong 103 trường hợp bộ ba âm tính, phần lớn là týp dạng đáy (82%). Các tiêu chuẩn hóa mô miễn dịch đơn giản này có thể được sử dụng trong thực hành thường quy để cung cấp các thông tin lâm sàng quan trọng. Đối với týp dạng đáy TNB(+) thường gặp ở những bệnh nhân trẻ hơn, độ mô học cao hơn; bệnh nhân có nguy cơ hơn. Những bệnh nhân có TNB(-) do kém đáp ứng với hóa trị nên có tiên lượng bệnh cũng xấu hơn.
Thường týp TNB(+) biểu hiện sẹo xơ trung tâm, hoại tử u, đè đẩy hoặc xâm lấn một phần bờ u và có xâm nhập lympho quanh u. TS.Chủ lưu ý, chỉ cần phát hiện bất kỳ đặc điểm týp TNB(+) có các tế bào dạng đáy, sáng hoặc hình thoi, hoặc ổ dị sản vảy; tỷ lệ nhân chia rất cao; tỷ lệ nhân/bào tương tăng thì các nhà giải phẫu bệnh phải khẳng định là týp dạng đáy bằng cách nhuộm hóa mô miễn dịch.
TS.Chủ cũng chia sẻ đối với EGFR bộc lộ ở nhiều loại u và được coi là sự khởi đầu đa dạng của các bước chuyển thể ác tính. Có khoảng 40 nghiên cứu trên thế giới cho thấy có 45% ung thư vú bộc lộ với EGFR. Sự bộc lộ EGFR không phải là dấu ấn đặc hiệu của týp dạng đáy như CK5/6, tuy nhiên khi kết hợp với các dấu ấn khác để xác định týp dạng đáy. Quan trọng hơn EGFR là một đích phân tử để phát triển nhiều loại thuốc điều trị nhắm trúng đích như cetuximab và các thuốc ức chế tyrosine kinase như gefitinib, erlotinib. TS.Chủ cũng lưu ý dấu ấn P63 có mối liên quan chặt chẽ với các dấu ấn CK đáy 5/6, CK17, EGFR; qua đó giúp xác định týp dạng đáy. Đối với protein gen p53 đột biến sẽ có tiên lượng xấu nhất là ở bệnh nhân có ER(+), hạch âm tính.
Đối với kích thước khối u, đây là một yếu tố tiên lượng độc lập quan trọng. Qua kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy các týp lòng ống thường có kích thước u nhỏ hơn các týp khác; týp lòng ống A thường có tỷ lệ cao hơn so với týp lòng ống B.
Đối với tình trạng hạch nách, đây là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất liên quan tỷ lệ bệnh tái phát và sống thêm. Tỷ lệ sống thêm, tái phát, thời gian tái phát, thất bại trong điều trị đều liên quan với số lượng hạch di căn. Kết quả nghiên cứu cho thấy các u có ER(-) tỷ lệ di căn hạch cao.
Anh Duy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 172

Số lượt truy cập: 9359617

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang