[Đăng ngày: 17/05/2017]
Theo BS Trần Nguyên Hà, Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh, carcinôm thần kinh nội tiết của vú lần đầu tiên được báo cáo vào năm 1963 do FeyRter và Hartmann bệnh như một ung thư vú xâm lấn có hình thái học tương tự như carcinoid của ruột.
Năm 2003, Tổ chức Y tế Thế giới dựa trên định nghĩa do Sapino và cộng sự thấy carcinôm thần kinh nội tiết của vú là một nhóm riêng. Bệnh này được định nghĩa là bướu có nguồn gốc biểu mô, với hình thái tương tự carcinôm thần kinh nội tiết của phổi và ruột. Chromogranin và Synaptophysin là 2 dấu ấn hóa mô miễn dịch thần kinh nội tiết có độ nhạy và độ đặc hiệu nhất.
Thuật ngữ biệt hóa thần kinh nội tiết được Di Sant’Agnese mô tả năm 1992, đó là hiện tượng các tế bào ung thư tiền liệt tuyến người (cấy ghép trên chuột) thoái triển rất nhanh sau khi cắt nguồn androgen và được thay thế bởi các tế bào bướu có kiểu tăng trưởng tế bào dày đặc và bộc lộ các dấu ấn thần kinh nội tiết.
Carcinôm thần kinh nội tiết của vú xuất phát từ thành phần biểu mô của tuyến vú, Tổ chức Y tế Thế giới gọi carcinôm thần kinh nội tiết nguyên phát của vú để phân biệt các bướu thần kinh nội tiết nơi khác di căn đến vú. Bệnh được chẩn đoán khi có thành phần tế bào carcinôm trong ống (intraductal) và hơn 50% dân số tế bào bướu tăng trưởng kiểu tổ tế bào dày đặc có bộc lộ dấu ấn thần kinh nội tiết.
Năm 2012, Tổ chức Y tế Thế giới phân loại bệnh dựa trên hình thái, ung thư vú với các đặc tính thần kinh nội tiết được chia 3 nhóm (1) bướu thần kinh nội tiết, biệt hóa tốt (giống carcinoid) (2) Carcinôm thần kinh nội tiết biệt hóa kém/carcinôm tế bào nhỏ (3) Carcinôm xâm lấn với biệt hóa thần kinh nội tiết. Bướu thần kinh nội tiết biệt hóa tốt thường là Carcinôm xâm lấn có grad nhân trung bình – thấp bao gồm tế bào trụ và giống tương bào với đôi khi có đặc tính tương tự bướu carcinoid xuất phát từ ống tiêu hóa và phổi. Carcinôm tế bào nhỏ, biệt hóa kém về hình thái giống với ung thư phổi tế bào nhỏ, có tỷ lệ nhân/bào tương cao, nhiễm sắc chất đậm đặc, tốc độ phân bào nhanh và các vùng hoại tử.
Nhóm Carcinôm xâm lấn bao gồm nhiều phân nhóm hình thái học, chủ yếu bởi sự thay đổi nhiều tế bào với carcinôm dạng nhày và dạng xâm lấn của carcinôm nhú đặc.
BS Hà lưu ý, tỷ lệ bệnh ung thư vú có thành phần biệt hóa thần kinh nội tiết hiện chỉ khoảng 2-5% trong ung thư vú nói chung, tuy nhiên thực tế có thể cao hơn vì các xét nghiệm dấu ấn thần kinh nội tiết không được thực hiện thường qui.
Về sinh mô học, có giả thuyết bệnh do sự biệt hóa chệch đi của các tế bào đầu dòng ung thư vú thành cả 2 hướng nột tiết và biểu mô. Giả thuyết này tương ứng với quan sát thấy bệnh thường là bướu hỗn hợp gồm cả tế bào nội tiết và ngoại tiết.
Xét nghiệm hóa mô miễn dịch cho thấy có sự bộc lộ của ER, PR, chromogranin Synaptophysin là bằng chứng khẳng định nguồn gốc tuyến vú và sự biệt hóa thần kinh nội tiết.
Bệnh carcinôm thần kinh nội tiết của vú thường có thụ thể nội tiết dương tính, trong khi Her 2 hầu hết âm tính. Một nghiên cứu của Ang và cộng sự năm 2015 khảo sát đột biến gen trên 372 bệnh nhân carcinôm vú xâm lấn cho kết quả có 20% carcinôm thần kinh nội tiết có đột biến gen PIK3CA, đây có thể là nguyên nhân gây ra carcinôm thần kinh nội tiết của tuyến vú.
Đặc điểm vi thể của bệnh cho thấy bướu có cấu trúc nang hoặc lớp vỏ dày đặc tế bào tạo thành hàng rào ở ngoại vi. Bướu gồm các tổ/ổ hay cụm tế bào dày đặc và các bè dãi tế bào phân tách bởi các dãi mô đệm sợi mạch dài mãnh.
Bệnh thường không có sự khác biệt về các đặc tính lâm sàng với các ung thư vú khác. Nó thường hiện diện như một khối cứng ở vú có hoặc không có hạch nách. Đôi khi có liên quan đến tăng tiết hormon do sự sản xuất sai vị trí của hormon hướng vỏ thượng thận, norepinephrine hoặc calcitonin. Bệnh thường được báo cáo ở nhóm bệnh nhân nữ tuổi 60 trở đi, nam giới hiếm gặp.
Trên siêu âm tuyến vú là một khối đặc có echo kém, bờ không rõ, tăng sinh mạch máu, có thành phần nang. Trên film chụp cộng hưởng từ cho thấy cường độ tín hiệu thấp đồng nhất. Để chẩn đoán xác định bằng sinh thiết hoặc mẫu mô sinh thiết. Sự hiện diện của carcinôm ống tuyến vú đi kèm thành phần tại chỗ là bằng chứng có giá trị cho tính chất nguyên phát của bướu. Để chẩn đoán loại trừ di căn từ nơi khác đến cần thực hiện chụp CT ngực, bụng hoặc PET-CT.     
Mai Trang
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 60

Số lượt truy cập: 9370672

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang