
Từ tháng 9/2014 đến tháng 9/2015, BSCKII. Nguyễn Hữu Châu – Trung tâm Nội tiết tỉnh Khánh Hòa đã cùng các cộng sự thực hiện nghiên cứu thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh ung thư vú ở phụ nữ 20-60 tuổi trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
Nghiên cứu có sự tham gia tự nguyện của 1.200 phụ nữ tại 8 huyện, thị xã, thành phố, theo phương pháp chọn mẫu tỷ lệ với kích thước quần thể, trong đó thành phố Nha Trang chiếm số lượng nhiều nhất là 360 người, ít nhất là 02 huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh mỗi huyện có 40 người tham gia nghiên cứu. Nghiên cứu đã đưa ra chuyên đề “Các giải pháp truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng chống ung thư vú phù hợp đối với phụ nữ 20-60 tuổi nói riêng và phụ nữ cả tỉnh nói chung trên địa bàn toàn tỉnh”.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 90% đối tượng nghiên cứu đã từng nghe thông tin truyền thông về phòng chống bệnh ung thư vú. Nguồn tiếp cận thông tin về ung thư vú và cách phòng chống cao nhất là kênh ti vi với tỷ lệ 91%, cao gấp 3 lần so với kênh báo, cao gấp 6 lần so với kênh internet, kênh đài phát thanh có tỷ lệ khá cao là 60,3% cao gần gấp đôi so với báo. Đối với truyền thông trực tiếp, đối tượng nghiên cứu tiếp cận từ cán bộ y tế chiếm tỷ lệ gần 52% cao hơn so với qua bạn bè, người thân (44,6%). Đối tượng nghiên cứu được nhận tờ rơi, áp phích thông tin về phòng chống bệnh ung thư vú chiếm tỷ lệ 22%.
Đối với kiến thức đúng về bệnh ung thư vú, gần 92% đối tượng nghiên cứu đồng ý với quan điểm ung thư vú là một trong những ung thư phổ biến ở phụ nữ, kết quả này cao gần gấp đôi so với một nghiên cứu tại tỉnh Bình Định với 772 phụ nữ tham gia vào năm 2010; đối với quan điểm ung thư vú là nguyên nhân tử vong hàng đầu đối với phụ nữ chết vì ung thư nói chung có ¾ đối tượng nghiên cứu đồng ý.
Nghiên cứu kiến thức về các yếu tố nguy cơ, tác giả nghiên cứu đã đưa ra nhiều nội dung như do di truyền (có bà, mẹ hoặc chị em gái trong gia đình bị ung thư vú), do hút thuốc, uống rượu, sinh con đầu lòng sau tuổi 35, dậy thì sớm trước 12 tuổi, mãn kinh muộn sau 55 tuổi, phụ nữ sau sinh con, thừa cân béo phì, phụ nữ cho con bú… Tỷ lệ hầu hết đồng ý với các yếu tố nguy cơ trên đều ở mức 40%; trong đó yếu tố do di truyền đề cập khá cao gần 60%; số đối tượng nghiên cứu có quan điểm cho rằng phụ nữ dưới 30 tuổi dễ mắc ung thư vú chiếm tỷ lệ gần 60%, trong khi trên thực tế độ tuổi mắc ung thư vú gia tăng từ 35 tuổi lên, nhất là giai đoạn 45-60 tuổi. Có hơn 80% đối tượng nghiên cứu đồng ý quan điểm cho con bú sẽ làm giảm thiểu được nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.
Đối với kiến thức về các triệu chứng, các triệu chứng như bệnh nhân ung thư vú như luôn xuất hiện khối u trong vú, rỉ dịch từ núm vú, vú sưng tấy, đau những vùng trên vú, kích thước vú to lên bất thường có tỷ lệ đồng ý của đối tượng nghiên cứu từ 70% trở lên, còn các triệu chứng như da trên núm vú đổi màu, lõm hoặc phù nề vùng da vú xung quanh, thường xuyên ngứa rát quanh núm vú, núm vú bị lõm vào hoặc co lại đối tượng nghiên cứu đồng ý chiếm tỷ lệ từ 45% đến dưới 70%; Đối với tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đồng ý về các triệu chứng ung thư vú có hạch nách chiếm 52%, sụt cân chỉ chiếm tỷ lệ 40%. Như vậy có thể thấy đối với kiến thức triệu chứng, dấu hiệu ung thư vú nhóm đối tượng trong nghiên cứu này chú ý nhiều đến hình ảnh thay đổi của vú nhiều hơn là núm vú, và chú ý đến sự thay đổi của núm vú nhiều hơn là triệu chứng có hạch nách và tình trạng sụt cân.
Đối với kết quả khảo sát kiến thức về phương pháp chẩn đoán ung thư vú, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đồng ý với việc tự khám vú và chụp nhũ ảnh là tương đồng và khá cao đạt 84%; đối với xét nghiệm cận lâm sàng siêu âm tuyến vú tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đồng ý là 93%, cao nhất vẫn là đi bác sỹ chuyên khoa khám vú đạt 97,7%. Đối với kết quả thực hành thăm khám, phát hiện ung thư vú có gần 38% đối tượng nghiên cứu đã từng đi bác sỹ khám vú ít nhất một lần, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu khám vú hàng ngày gần 50%, chọn Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh siêu âm kiểm tra vú 46%, tỷ lệ siêu âm kiểm tra tại bệnh viện Đa khoa tỉnh 17%, tại các Trung tâm Y tế huyện thị xã hơn 11%, Có 60% đối tượng nghiên cứu đã từng chụp nhũ ảnh kiểm tra ung thư vú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Về thói quen tập thể dục có gần 70% đối tượng nghiên cứu thường xuyên tập thể dục, trong đó tập 30-60 phút/ngày chiếm hơn 43%. Đối với nhóm chưa từng đi khám kiểm tra ung thư vú (62%) cho biết lý do nhiều nhất là vì không thấy vú có triệu chứng gì, lý do không có tiền chiếm tỷ lệ 12%, lý do không có thời gian chiếm gần 10%, lý do cảm thấy ngượng, mắc cỡ khi khám vú chiếm 6,3%, lý do sợ phát hiện ra bệnh ung thư chiếm gần 4%, lý do sợ bị đau chiếm tỷ lệ thấp là 0,7%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối tượng nghiên cứu mong đợi được tiếp cận nguồn thông tin truyền thông phòng chống bệnh ung thư vú nhiều nhất là qua ti vi với tỷ lệ hơn 86%, cao hơn so với Đài phát thanh (63%) gấp hơn 2 lần so với qua báo chí, nguồn internet chiếm tỷ lệ chưa đến 20%. Đối với kênh truyền thông qua cán bộ y tế đối tượng nghiên cứu mong đợi đến gần 86%, cao hơn 2 lần so với qua bạn bè, người thân. Tỷ lệ nhận được tờ rơi, áp phích hướng dẫn phòng chống bệnh ung thư vú chiếm hơn 30%.
BS. Nguyễn Hữu Châu đã đề xuất thực hiện nhiều giải pháp truyền thông phòng chống bệnh ung thư vú, cụ thể như tăng cường hình thức truyền thông trực tiếp qua cán bộ y tế, đặc biệt mạng lưới y tế xã phường , phối hợp các ban ngành đoàn thể nhất là Hội Liên Hiệp Phụ nữ các cấp. Đối với hình thức truyền thông gián tiếp đẩy mạnh việc truyền thông qua tin, bài, phóng sự, bài đọc phổ biến kiến thức qua kênh báo đài Phát thanh truyền hình tỉnh, huyện, xã, sản xuất các tài liệu truyền thông panô, áp phích, tờ rơi, cung cấp đối tượng đồng thời huy động sự tham gia của các ban, ngành, tổ chức các hoạt động như diễn đàn của người bệnh ung thư vú, các sự kiện truyền thông hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh ung thư, câu lạc bộ bệnh nhân ung thư vú, ngày hội truyền thông phòng chống ung thư vú hưởng ứng ngày Thế giới phòng chống ung thư vú 04/2 hàng năm. Để thực hiện tốt, cần có những lớp tập huấn, đào tạo nâng cao kỹ năng truyền thông cho cán bộ y tế, các cán bộ ban ngành, đoàn thể để có thể hướng dẫn cho phụ nữ hiểu đúng các yếu tố nguy cơ, thái độ đúng và có kỹ năng tự khám vú đúng, tạo thói quen, thường xuyên để phát hiện bệnh kịp thời qua các dịch vụ y tế có sẵn trên địa bàn, từ đó có kế hoạch điều trị đúng nâng cao chất lượng cuộc sống, đem lại cuộc sống khỏe mạnh hạnh phúc cho người phụ nữ, gia đình và cộng đồng.
Nguyễn Phương