
Từ tháng 1/2011 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Bùi Chí Viết – Bệnh viện Ung bướu Tp. Hồ Chí Minh và Nguyễn Phước Nghĩa – Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi cắt trước thấp trong điều trị ung thư trực tràng”.
Theo BS. Bùi Chí Viết, phẫu thuật nội soi cắt trước thấp điều trị ung thư trực tràng có nhiều ưu điểm so với phương pháp mổ hở do có camera phóng đại và nguồn sáng tốt, phẫu thuật viên nhận rõ cấu trúc giải phẫu hơn. Những ưu điểm đó càng được phát huy khi phẫu tích giải phóng trực tràng, thực hiện cắt toàn bộ mạc treo trực tràng, bảo tồn thần kinh tự động trong phẫu trường sâu và hạn hẹp của khung chậu, cải thiện kết quả tốt của phẫu thuật.
Nghiên cứu được thực hiện trên 47 đối tượng được chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm sàng, nội soi đại trực tràng sinh thiết, chụp cắt lớp vi tính để xác định vị trí, kích thước, mức độ xâm lấn của khối bướu cũng như phát hiện di căn xa. Phương pháp phẫu thuật tiến hành là phẫu thuật nội soi cắt trước thấp miệng nối đại tràng – trực tràng tận – tận dưới nếp phúc mạc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 56,9; người nhỏ nhất là 29 tuổi, lớn nhất là 80 tuổi. Nam/nữ có tỷ lệ không chênh lệch nhiều: 1,14. Thời gian từ khi người bệnh phát hiện có triệu chứng đầu tiên đến khi vào viện cao nhất là thời điểm dưới 3 tháng (44,7%). Đi phân đàm máu, đau bụng là 2 triệu chứng cơ năng thường gặp nhất. Có 36% có biểu hiện sụt cân.
Bướu trực tràng ở vị trí 1/3 giữa chiếm 61,7%; tại 1/3 dưới chiếm 23,4%; còn 14,9% là vị trí 1/3 trên của trực tràng. Kích thước bướu trung bình 4,6cm. Bướu lớn hơn 4cm chiếm đến gần 62%. Phân độ lâm sàng, giai đoạn 1 là 8,5%; giai đoạn 2: 36,2%; giai đoạn 3 chiếm 51% và giai đoạn 4 có 4,3%. Dạng đại thể của bướu chiếm tỷ lệ cao nhất là dạng chồi sùi (89%); 100% là carcinôm tuyến. Carcinôm tuyến grad 2 chiếm 68%, còn grad 1 chiếm 29,8%, 01 trường hợp là carcinôm tuyến tiết nhầy.
Thường ung thư trực tràng dạng carcinôm tuyến biệt hóa kém có tiên lượng xấu nhất, do tính chất xâm lấn và do di căn nhanh, trong nghiên cứu này không có trường hợp nào là carcinôm tuyến biệt hóa kém.
Theo phân tích của BS. Bùi Chí Viết, phẫu thuật nội soi trực tràng đòi hỏi kỹ năng phẫu tích tỉ mỉ đảm bảo cầm máu và nạo vét hạch nên thời gian phẫu thuật thường kéo dài hơn so với phẫu thuật hở cổ điển. Đối với những phẫu thuật viên có kinh nghiệm, được đào tạo tốt sẽ có thời gian mổ rút ngắn hơn. Trong nghiên cứu của tác giả, thời gian phẫu thuật trung bình là 153 phút.
Phẫu thuật nội soi hạn chế được các sang chấn các tạng trong ổ bụng, giảm các biến loạn của hệ miễn dịch, giảm đau sau phẫu thuật cho người bệnh. Thời gian nhu động ruột trở lại sớm hơn, người bệnh hồi phục nhanh hơn. Trong nghiên cứu thời gian trung tiện trung bình của đối tượng nghiên cứu là 3 ngày; thời gian nằm viện trung bình là 8 ngày đối với các trường hợp không có biến chứng; 9,6 ngày đối với trường hợp có biến chứng.
Theo BS. Viết, nhờ có máy nội soi phóng đại cấu trúc giải phẫu, dụng cụ nội soi tốt nên phẫu thuật viên đã quan sát và bảo tồn thần kinh hạ vị, tránh được các biến chứng chảy máu, nhất là tai biến chảy máu trước xương cùng, giữ được sự toàn vẹn của mạc riêng trực tràng khi cắt toàn bộ mạc treo trực tràng đối với bướu ở 1/3 giữa và dưới.
Kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận có 04 trường hợp chảy máu trong lòng trực tràng, 02 trường hợp xì miệng nối, 01 trường hợp tổn thương niệu quản và 01 trường hợp tắc ruột muộn. BS. Viết phân tích những trường hợp cắt trực tràng do ung thư, xì miệng nối có thể làm tăng tỷ lệ tái phát tại chỗ. Đối với 02 trường hợp xì miệng nối trong nghiên cứu được phát hiện vào ngày thứ 6 sau mổ do viêm phúc mạc, tụ dịch phân vùng chậu (bung miệng nối ½ sau). Cả 02 trường hợp được mổ lại làm hậu môn nhân tạo, rửa bụng, dẫn lưu và mở hồi tràng ra da.
Đối với đánh giá kết quả về mặt ung bướu, theo BS. Viết giới hạn cắt bướu nhỏ hơn 2cm, là giới hạn đảm bảo không còn tế bào ung thư. Trong nghiên cứu 100% đối tượng nghiên cứu diện cắt là 4,1 ± 1,7cm (1-8cm) đảm bảo 100% không còn tế bào ung thư.
Theo Tổ chức Chống ung thư thế giới, số lượng hạch thu được phải trên 12 mới đánh giá phẫu thuật có nạo vét đầy đủ hay không. Số lượng hạch này có thể thay đổi nếu có thể hóa xạ trị trước mổ, phẫu tích không đầy đủ (đối với giai đoạn T3, T4).
Trong nghiên cứu, kết quả cho thấy số lượng nạo vét hạch được trung bình là 12 hạch. Qua theo dõi trung bình 23,3 tháng, có 05 trường hợp tái phát tại chỗ hoặc di căn xa. Theo dõi 40,3 tháng ghi nhận có 01 trường hợp tử vong nguyên nhân do bệnh di căn xa. Tỷ lệ sống còn toàn bộ 3 năm đạt gần 92%.
BS. Bùi Chí Viết cũng lưu ý đối với biến chứng chảy máu miệng nối sau phẫu thuật thường do mạch treo chèn vào giữa 2 mõm cắt ruột lúc bấm máy, vì vậy phẫu thuật viên cần kiểm tra kỹ 2 đầu mõm cắt trước khi thực hiện miệng nối, khâu cột cầm máu hay đốt các điểm chảy máu một cách cẩn trọng.
Đối với biến chứng rối loạn đi tiêu thường là liên quan đến vai trò của túi chứa trực tràng, là nơi chứa phân và tạo sự kích thích mắc rặn khi đi tiêu, thường xảy ra khi thực hiện miệng nối trực tràng ở vị trí < 9cm cách bờ hậu môn. Theo y văn khuyến cáo nên thực hiện túi chứa đại tràng kiểu J nhằm khắc phục tình trạng rối loạn đi tiêu.
Đối với ung thư trực tràng giai đoạn T1-2NO không có chỉ định xạ trị, ở giai đoạn T3-T4 hoặc có di căn hạch xạ trị được chỉ định để điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật giảm tỷ lệ tái phát bệnh cho người bệnh.
Mai Trang