[Đăng ngày: 05/02/2016]
Tại Hội thảo phòng chống ung thư thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức vào tháng 12/2015, TS BS Phạm Hùng Cường cùng cộng sự đã báo cáo đề tài “Nhìn lại giá trị tiên lượng của kháng nguyên CEA trong carcinôm trực tràng”.
Nghiên cứu thực hiện theo dõi 162 bệnh nhân ung thư trực tràng loại carcinôm tuyến điều trị phẫu và xạ trị tại Bệnh viện Ung bướu TP. HCM từ tháng 01/2000 đến tháng 12/2004. Thời điểm kết thúc theo dõi là ngày 30/4/2005. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian theo dõi trung bình 21 tháng, trong thời gian theo dõi có 30 trường hợp tái phát di căn và 18 trường hợp tử vong. Đối tượng nghiên cứu là nữ 95 nhiều hơn so với nam giới là 67, tuổi nhỏ nhất là 19, lớn nhất là 87, tuổi trung bình là 56. Vị trí bướu 1/3 dưới chiếm 58% (cách bờ hậu môn 0-5cm); kết quả phẫu bệnh carcinôm tuyến grad 1 có 44 trường hợp; grad 2 có 103 trường hợp và grad 3 có 15 trường hợp. Các loại phẫu thuật cắt trực tràng tận gốc đã thực hiện nhiều nhất là phẫu thuật Miles: 102 trường hợp; phẫu thuật cắt rộng bướu được thực hiện ít nhất 7 trường hợp. Có 103 trường hợp được thực hiện xạ trị sau mổ (là các trường hợp ở giai đoạn 2 bướu xâm lấn hết lớp cơ hoặc xâm lấn cơ quan lân cận và giai đoạn 3 hạch vùng bị di căn). Thể tích xạ trị gồm bướu nguyên phát và mô mềm xung quanh, hạch chậu trong, hạch trước xương cùng. Đối với hóa trị sau mổ được thực hiện 22 trường hợp với 21 trường hợp dùng 5FU.
Kết quả xét nghiệm lượng kháng nguyên CEA trước mổ cho thấy ≤ 4ng/ml chiếm tỷ lệ 54%; CEA > 4 ng/ml chiếm tỷ lệ 46%. Các bệnh nhân có lượng CEA trước mổ cao đa số ở giai đoạn muộn, khi bướu đã xâm lấn lớp cơ hoặc di căn hạch. Trong quá trình theo dõi, tác giả nghiên cứu nhận thấy có 30 trường hợp tái phát di căn với 14 trường hợp có lượng kháng nguyên CEA trước mổ thấp (16%) và 16 trường hợp có lượng kháng nguyên CEA trước mổ cao (21%). Đối với 18 trường hợp tử vong có 7 trường hợp có lượng kháng nguyên CEA trước mổ thấp (8%) và 11 trường hợp có lượng kháng nguyên CEA trước mổ cao (15%). Tác giả nghiên cứu cũng chỉ ra kết quả nghiên cứu cho thấy lượng kháng nguyên CEA trước mổ cao (>4 ng/ml) không phải là yếu tố tiên lượng xấu ở các bệnh nhân carcinôm trực tràng, tuy nhiên trong 57 bệnh nhân carcinôm trực tràng Dukes C, 12 trường hợp tử vong có 10 trường hợp lượng kháng nguyên CEA trước mổ cao (30%), 2 trường hợp có lượng kháng nguyên CEA trước mổ thấp (8%).
Theo TS Phạm Hùng Cường, CEA là một glycoprotein cao phân tử thuộc về nhóm các phân tử immunoglobulin. CEA có vai trò trong một số quá trình sinh học như kết dính tế bào, miễn dịch và chết tế bào theo lập trình. Các chức năng của kháng nguyên CEA đều tạo điều kiện thuận lợi để di căn xa dễ xảy ra. Những nghiên cứu quốc tế cho thấy giá trị bình thường của CEA < 2,5 ng/ml ở người không hút thuốc và < 5 ng/ml ở người hút thuốc. CEA có thể tăng khi có viêm đường ruột, viêm tụy, suy giáp, tắc nghẽn đường mật và xơ gan, tuy nhiên hiếm khi CEA > 10 ng/ml. CEA được xác định là cao đa số là 5 ng/ml, đối với nghiên cứu của TS Cường dùng ngưỡng bệnh lý của kháng nguyên CEA là 4 ng/ml. Qua khảo sát cho thấy lượng kháng nguyên CEA trước mổ cao không có giá trị dự đoán giai đoạn carcinôm trực tràng. Nếu một xét nghiệm y học có giá trị chẩn đoán cao thì tỷ số chẩn đoán lớn hơn 10; trong nghiên cứu này tỷ số chẩn đoán của lượng kháng nguyên CEA trước mổ là 1,5, do vậy không có giá trị dự đoán giai đoạn carcinôm trực tràng. Lượng CEA trước mổ cao (> 4 ng/ml) không phải là yếu tố tiên lượng xấu ở các bệnh nhân carcinôm trực tràng. Tuy nhiên, lượng kháng nguyên CEA trước mổ cao có thể là yếu tố tiên lượng sống còn ngắn ở các bệnh nhân carcinôm trực tràng Dukes C.
Chúng ta biết rằng, năm 1965 hai tác giả Gold và Freedman khám phá ra kháng nguyên CEA; theo hướng dẫn của Nhóm nghiên cứu các chất đánh dấu bướu của Âu Châu (EGTM) năm 2003, CEA không có giá trị tầm soát và chẩn đoán vì độ nhạy và độ đặc hiệu yếu; CEA có giá trị tiên lượng bệnh, theo dõi tái phát sau mổ và theo dõi điều trị các bệnh nhân giai đoạn tiến triển.
Trong phần thảo luận, GS Văn Tần cho rằng những trường hợp có CEA dương tính trước mổ mới theo dõi sau mổ, nếu lượng CEA sau mổ còn cao cần xem phương pháp điều trị, hạch đã lấy hết chưa. Còn theo GS TS Mai Trọng Khoa lưu ý nhiều di căn của ung thư đại trực tràng trên các xét nghiệm PET-CT không nhìn thấy vì kích thước khối u quá nhỏ; đọc PET-CT người cán bộ y tế phải đủ kinh nghiệm đọc, nhỏ quá không thấy, u nhỏ rải rác nhiều nơi vẫn sản xuất CEA nên xét nghiệm CEA tăng. CEA là dấu ấn sinh học có thể xuất hiện nhiều loại ung thư, là một chỉ số trong các chỉ số, vì vậy cần dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng để chẩn đoán ung thư tái phát hay không tái phát của người bệnh sau phẫu thuật./.    
Phúc Nguyên
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 126

Số lượt truy cập: 9369888

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang