[Đăng ngày: 13/07/2017]
Loại ung thư chưa biết được nguồn gốc gọi là ung thư chưa rõ nguyên phát.

Ung thư chưa rõ nguyên phát có biểu hiện với những đặc điểm lâm sàng khác nhau. Ở các nước tiên tiến, bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, thực hiện nhiều xét nghiệm cũng chỉ phát hiện được nguyên nhân ở mức dưới 30% trong số các ung thư chưa rõ nguyên phát. Thậm chí khi khám nghiệm tử thi cũng chỉ có thể phát hiện được 80% các trường hợp.

Trong các ung thư chưa rõ nguyên phát, thường gặp là các trường hợp carcinoma di căn hạch cổ chưa rõ nguyên phát. Theo BS Phạm Thành Luân – Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Quân Y 175, nếu chỉ dựa vào các kỹ thuật chẩn đoán như siêu âm, nội soi, chụp CT, MRI tỷ lệ tìm được ổ nguyên phát còn hạn chế. Nguyên nhân là do u nguyên phát còn quá nhỏ, tiến triển chậm không phát hiện được hoặc đã thoái triển. Thực tế có nhiều bệnh nhân có biểu hiện di căn rất rõ nhưng vị trí tổn thương nguyên phát không tìm thấy; vì vậy làm ảnh hưởng đến chiến lược điều trị và hiệu quả điều trị không cao, tỷ lệ tử vong cao và thời gian sống thêm thấp. Việc điều trị ung thư di căn hạch cổ chưa rõ nguyên phát hiện nay ở Việt Nam vẫn là hóa trị theo phác đồ có tính chất bao vây hướng tới carcinoma tế bào gai, sử dụng phẫu thuật hay xạ trị còn bàn cãi và ít được sử dụng trong điều trị bước 1.

Theo BS Luân, PET/CT là một kỹ thuật chẩn đoán hiện đại được ứng dụng trong nhiều chuyên ngành, đặc biệt là ung thư dựa trên nguyên lý các tế bào ung thư tiêu thụ glucose nhiều hơn các tế bào bình thường, vì vậy tế bào ung thư sẽ hấp thu mạnh phân tử FDG tại mô bướu. PET/CT có thể phát hiện các bất thường về chuyển hóa, ghi được những hình ảnh bệnh lý sớm, còn nhỏ khi chưa có thay đổi cấu trúc. Vì vậy, theo các chuyên gia ung thư PET/CT có độ nhạy, độ đặc hiệu để chẩn đoán ung thư cao hơn rất nhiều so với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới đánh giá vai trò của PET/CT đối với việc phát hiện tổn thương nguyên phát cho thấy tỷ lệ tìm được tổn thương nguyên phát từ 50-55%.

Từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thành Luân cùng cộng sự Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Quân Y 175 đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá vai trò của PET/CT trong chẩn đoán và chỉ định điều trị bệnh nhân carcinoma di căn hạch cổ chưa rõ nguyên phát.

Theo báo cáo của BS Luân, có 23 bệnh nhân chẩn đoán carcinoma di căn hạch cổ chưa rõ nguyên phát đủ điều kiện tham gia nghiên cứu; được chẩn đoán bằng sinh thiết hạch hoặc FNA nhưng không tìm thấy tổn thương nguyên phát; không có trường hợp đối tượng nghiên cứu được phẫu thuật cắt bỏ cấu trúc giải phẫu nào trong vòng 2 năm. Tất cả đối tượng nghiên cứu được khám chuyên khoa Tai mũi họng, Răng hàm mặt, siêu âm hạch cổ - tuyến giáp; CT/MRI đầu cổ - ngực; nội soi Tai mũi họng, nội soi dạ dày thực quản; xét nghiệm CEA, CA72.4; CA19.9, Cyfro21.1, CA15.3, CA125 đối với bệnh nhân nữ giới; PSA đối với bệnh nhân nam giới. Tất cả đều không tìm thấy tổn thương nguyên phát. Máy PET/CT sử dụng là Phillip XXL, phần CT 16 lát cắt, dược chất phóng xạ là FDG. PET/CT chỉ điểm được tổn thương để sinh thiết và kết quả giải phẫu sau đó bệnh phù hợp với tại hạch di căn.

BS Luân chia sẻ, 23 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có 16 trường hợp là nam giới; tuổi trung bình là 46. Về số lượng hạch, có 5ca hạch đơn độc; 8ca có nhiều hạch dính nhau cùng bên; 06ca có nhiều hạch xa nhau cùng bên; 4ca có nhiều hạch hai bên. Vị trí hạch có ở hố thượng đòn trái; hố thượng đòn phải. Kích thước hạch lớn nhất đa số dưới 6cm; có 2ca hạch lớn 8cm, 10cm. Về đặc điểm mô bệnh học nhóm carcinoma độ ác tính cao chiếm 16/23 trường hợp. Có 15 bệnh nhân sau chụp PET/CT tìm được tổn thương gợi ý nguyên phát, 3ca vị trí vòm họng; 05ca ở Amydan; 3ca ở vị trí đầu – cổ khác  và 04ca ở vị trí khác như hạ họng, thung lũng dưới đáy lưỡi; có 01ca ung thư dưới niêm mạc khẩu hầu. Các vị trí khác phát hiện được có ung thư phổi trái kích thước 1,5cm nằm sát trung thất vùng cửa sổ phế chủ; 1ca ung thư thực quản; 01ca ung thư dạ dày; 01ca ung thư vú không tìm thấy di căn hạch nách, siêu âm vú, marker CEA, CA15.3 không thấy bất thường.

BS Luân cho biết, sau khi chụp PET/CT có 13/23 bệnh nhân được thay đổi kế hoạch điều trị ban đầu từ chỉ định hóa trị sang xạ trị (3ca); hóa xạ trị đồng thời (8ca); phẫu thuật 2ca; các bệnh nhân này được xếp vào nhóm có chỉ định điều trị triệt căn ngay từ bước 1. Có 5/23ca vẫn giữ nguyên chỉ định ban đầu là hóa trị; các trường hợp này có tiên lượng khá rõ ràng về khả năng điều trị triệt để bằng phẫu thuật sau hóa trị. Có 05ca được chỉ định hóa trị vớt vát do sau chụp PET/CT dù tìm được tổn thương đều xếp vào giai đoạn bệnh muộn, di căn hạch cổ, xương hoặc trung thất; vùng đầu tụy; di căn đa ổ.

   Đức Bảo
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 109

Số lượt truy cập: 9359291

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang