Theo các chuyên gia ung thư, phẫu thuật trong điều trị ung thư vú việc bảo tồn vú có tạo hình giúp cải thiện kết quả thẩm mỹ sau điều trị.

Trước khi mổ việc xác định tỷ lệ thể tích bướu trên thể tích vú phải được thực hiện, vì vậy việc đo thể tích tuyến vú trước phẫu thuật đóng vai trò quan trọng. Hiện có 7 phương pháp đo thể tích tuyến vú gồm (1) đo bằng dụng cụ Grossman – Roudner. Các đĩa có nhiều kích thước từ 16cm đến 28 cm, được sử dụng cho tuyến vú có thể tích dao động từ 150ml đến 1500ml. (2) Đo bằng phương pháp giải phẫu (anatomic measurememt) dựa vào công thức của tác giả Quiao, giúp xác định được các kích thước giải phẫu của tuyến vú, tính được thể tích tuyến vú. (3) Đo bằng phương pháp Archimedes sử dụng dụng cụ có khuôn nhựa, gồm 3 loại khuôn 800ml, 1300ml và 1800ml cùng túi nhựa có thể tích 1000ml. (4) Đo bằng phương pháp đúc khuôn (casting method). Sử dụng các vật liệu nhựa dẻo chịu nhiệt, sử dụng một lớp ngăn cách mỏng bằng nhựa để tránh bệnh nhân tiếp xúc trực tiếp với vật liệu. (5) Đo bằng kỹ thuật hình ảnh học 3D/MRI/Siêu âm. Kỹ thuật 3D giúp tái hiện hình ảnh tuyến vú qua đó xác định thể tích tuyến vú. Còn kỹ thuật MRI hay siêu âm giúp đo thể tích từng lát cắt (3,8mm-8,4mm); đối với siêu âm mỗi lát cắt dày 1cm) sau đó cộng tất cả thể tích các lát cắt với nhau (6) Đo thể tích bệnh phẩm tuyến vú sau phẫu thuật cho trực tiếp vào bình có chứa sẵn một thể tích nước nhất định (300-400ml). Thể tích vú được tính bằng lấy thể tích tổng cộng sau khi cho bệnh phẩm vào trừ đi thể tích nước có sẵn ban đầu (7) Đo bằng nhũ ảnh (mammographic measurement) - bệnh nhân được chụp nhũ ảnh thường qui, việc đo đạc tính toán trên nhũ ảnh thuận lợi. Trước đây tính theo công thức nhũ ảnh như một hình nón, theo các nghiên cứu khác thì công thức tính theo hình trụ dạng elip cho kết quả chính xác hơn.
Nhóm tác giả nghiên cứu Trần Văn Thiệp cùng cộng sự Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh đặt vấn đề trên lâm sàng nên tiến hành phương pháp đo nào, với các tiêu chí là chính xác, tiện lợi, chi phí thấp và dễ thực hiện. Có những tác giả ở ngoài nước cho rằng 2 phương pháp là sử dụng nhũ ảnh và sử dụng thông số giải phẫu là nổi trội hơn so với những phương pháp khác.
Từ tháng 10/2015 đến tháng 5/2016, tác giả Trần Văn Thiệp báo cáo đề tài nghiên cứu “So sánh thể tích tuyến vú đo bằng phương pháp nhũ ảnh và phương pháp giải phẫu” Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là phụ nữ được chẩn đoán ung thư vú giai đoạn I, II, có kết quả giải phẫu bệnh là carcinôma vú, có chỉ định đoạn nhũ tại Bệnh viện ung bướu thành phố Hồ Chí Minh. Tất cả đối tượng nghiên cứu đều được chụp nhũ ảnh tại bệnh viện ung bướu thành phố Hồ Chí Minh, những bệnh nhân có phẫu thuật trên tuyến vú trước đó hoặc có đặt túi ngực đều không được mời tham gia nghiên cứu.
Đo thể tích tuyến vú bằng nhũ ảnh, xác định được độ dày tuyến vú (compresson) tính bằng cm. Xác định chiều rộng tuyến vú (W) và chiều cao tuyến vú (H). Tại phòng mổ, sau khi bệnh nhân được phẫu thuật đoạn nhũ, thể tích bệnh phẩm được tính bằng cách cho vào bình chứa nước có vạch, lấy thể tích tổng trừ đi thể tích nước ban đầu.
Tác giả Trần Văn Thiệp chia sẻ, có 120 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, độ tuổi trung bình là 44,7, chỉ số BMI trung bình 25,4. Có 83% là carcinôm ống tuyến vú, 17% là carcinôm tiểu thùy tuyến vú. Thể tích trung bình tuyến vú đo bằng nhũ ảnh là 459,6 ml (190-770ml); Thể tích tuyến vú đo bằng thông số giải phẫu là 390,8ml (160-670ml). Qua phân tích so sánh, tác giả nghiên cứu nhận thấy khi thể tích tuyến vú nhỏ hơn 500ml thì phương pháp đo bằng nhũ ảnh cho kết quả gần chính xác nhất, còn khi thể tích tuyến vú lớn hơn 500ml thì phương pháp sử dụng thông số giải phẫu học chiếm ưu thế hơn.
Tác giả Trần Văn Thiệp kết luận phương pháp đo thể tích tuyến vú gần chính xác nhất là phương pháp sử dụng nhũ ảnh; Khi trên lâm sàng sử dụng phương pháp này cần sử dụng thể tích bệnh phẩm sau mổ làm nhóm chứng. Để khẳng định hơn tác giả nghiên cứu kiến nghị cần có những nghiên cứu tiếp theo để xác định thêm về kết luận này.
Trần Hưng