Phẫu thuật điều trị bệnh ung thư vú hiện nay có nhiều thay đổi. Từ phẫu thuật đoạn nhũ tận gốc đến những phẫu thuật ít xấm lấn, kết quả thẩm mỹ ngày càng tốt hơn.
Các bác sĩ đã phẫu thuật bảo tồn vú; phẫu thuật đoạn nhũ và tái tạo vú. Sự chọn lựa đoạn nhũ tiết kiệm da, cho đến phương pháp đoạn nhũ chừa núm vú cùng với tái tạo càng được áp dụng nhiều hơn. Đoạn nhũ chừa núm vú đòi hỏi phải lấy đi tất cả mô vú và giữ lại toàn bộ da của vú và phức hợp quầng vú – núm vú. Phương pháp đoạn nhũ chừa núm vú có nhiều ưu điểm hơn so với các điểm yếu của phương pháp phẫu thuật tiết kiệm da như tái tạo lại quầng vú – núm vú; xăm quầng vú, sự giảm cảm giác và yếu tố nữ tính.
Tác giả nghiên cứu Trần Việt Thế Phương cùng cộng sự Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Khảo sát tỷ lệ xâm nhiễm vi thể núm vú trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm”. Nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi việc chừa lại phức hợp quầng vú – núm vú có an toàn về mặt ung thư không, có để lại tế bào ung thư và làm tăng tỷ lệ tái phát.
Theo BS Thế Phương, việc đánh giá mức độ hiện diện của tế bào ung thư ở quầng vú – núm vú sẽ giúp các bác sĩ đánh giá được mức độ an toàn của việc chừa lại quầng vú – núm vú. Do đó, BS Phương chia sẻ mục đích nghiên cứu là xác định tỷ lệ xâm nhiễm núm vú ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm, các yếu tố tiên đoán xâm nhiễm núm vú từ đó chọn những bệnh nhân phù hợp với việc điều trị phẫu thuật đoạn nhũ chừa núm vú.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2015 đến tháng 6/2016; đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I, II. Không chọn những bệnh nhân trên lâm sàng có xâm nhiễm quầng vú – núm vú với tiết dịch núm vú, co kéo núm vú; hoặc các trường hợp bệnh Paget’s núm vú. BS Thế Phương cho biết có 208 trường hợp được chọn tham gia nghiên cứu; tuổi trung bình là 50,8; kích thước bướu trung bình là 3cm. Có 199 bướu (95,6%) có kết quả là carcinôm tuyến vú; 8 bướu là carcinôm tiểu thùy. Xâm nhiễm núm vú được xác định qua giải phẫu bệnh ở 16 ca (7,7%). Xâm nhiễm núm vú xuất hiện nhiều ở những ca bướu có chỉ số Ki-67 cao, phân nhóm Luminal B/Her 2 âm tính và Her 2 dương tính.

Tác giả nghiên cứu Thế Phương phân tích sự tham gia của đối tượng nghiên cứu không đồng nhất, cách đánh giá bệnh phẩm núm vú sau mổ là những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ xâm nhiễm núm vú. Có các nghiên cứu trên thế giới cho thấy khi khối bướu cách quầng vú – núm vú ít nhất 2,5cm thì không có sự xâm nhiễm quầng vú – núm vú trên vi thể. Về kỹ thuật lấy mẫu cũng là yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ xâm nhiễm quầng vú – núm vú. Các lát cắt đứng dọc cho thấy tỷ lệ thấp xâm nhiễm quầng vú – núm vú; lát cắt đứng ngang hoặc vuông góc với trục của núm vú có tỷ lệ xâm nhiễm quầng vú – núm vú cao hơn.
Phẫu thuật đoạn nhũ tiết kiệm da tại Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh cho phép lấy đi tất cả mô vú, quầng vú – núm vú nhưng lại bảo tồn phần lớn diện tích da bao quanh vú. Các chuyên gia cho rằng phẫu thuật đoạn nhũ chừa quầng vú – núm vú với việc giữ lại phức hợp quầng vú – núm vú sẽ có chất lượng tốt hơn về một chức năng cũng như thẩm mỹ mà vẫn an toàn về mặt ung thư, có thể là lựa chọn thay thế thích hợp cho những trường hợp phải đoạn nhũ với tái tạo tức thì.
Có tác giả nghiên cứu thực hiện sinh thiết lõi kim núm vú để đánh giá xâm nhiễm quầng vú – núm vú trong lúc mổ. Việc dự đoán khả năng xâm nhiễm quầng vú – núm vú giúp bác sĩ và bệnh nhân lựa chọn được phương pháp phẫu thuật thích hợp cho từng người bệnh; một lưu ý là tỷ lệ tái phát tại quầng vú – núm vú thấp đối với bệnh nhân có bướu giai đoạn sớm và cách núm vú 2cm. Nghiên cứu khác cũng cho rằng, vị trí bướu, số hạch nách di căn và xâm lấn mạch bạch huyết là những yếu tố nguy cơ quan trọng; những ca có 2-3 yếu tố này tỷ lệ xâm nhiễm quầng vú – núm vú là 50%; nếu có 1 hoặc không có yếu tố nguy cơ nào tỷ lệ này giảm chỉ còn 8%.
Tác giá Thế Phương cũng cho biết tại Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh, thực hiện chỉ định đoạn nhũ chừa núm vú cho những trường hợp có bướu < 2,5cm và bướu cách núm vú từ 4cm trở lên. Kết luận cho nghiên cứu tác giả nghiên cứu báo cáo tỷ lệ xâm nhiễm núm vú ở ung thư vú giai đoạn sớm là không cao; các yếu tố chỉ số Ki 67 cao là những yếu tố độc lập làm tăng tỷ lệ xâm nhiễm núm vú; đây là cơ sở để các bác sĩ chọn lựa nhóm bệnh nhân thích hợp để đoạn nhũ chừa núm vú và tái tạo.
Anh Duy