[Đăng ngày: 11/07/2017]
Bệnh lý phình động mạch chủ bụng chủ yếu xảy ra ở những bệnh nhân lớn tuổi. Thống kê ở các nước Âu, Mỹ phình động mạch chủ bụng xuất hiện ở khoảng 5% nam giới trên 65 tuổi. Độ tuổi là yếu tố đáng chú ý của sự phát triển của phình động mạch chủ bụng.

Năm 1990, tác giả Juan C.Parodi và cộng sự mô tả trường hợp đầu tiên đặt ống ghép nội mạch điều trị phình động mạch chủ bụng tại Buenos Aires. Tháng 12/1994, tác giả Michael Dake và cộng sự tại đại học Stanford Mỹ thực hiện những ca can thiệp nội mạch điều trị phình động mạch chủ ngực đoạn xuống với 13 bệnh nhân, thời gian theo dõi trung bình 11,6 tháng.

Theo BS Lâm Văn Nút – Khoa Phẫu thuật mạch máu Bệnh viện Chợ Rẫy, tại Việt Nam những năm gần đây bắt đầu áp dụng phương pháp điều trị bệnh nhân phình động mạch chủ bụng. Từ tháng 4/2013 đến tháng 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu BS Lâm Văn Nút và BS Trần Quyết Tiến thuộc Bộ môn Ngoại lồng ngực – Tim mạch Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh tiến hành nghiên cứu báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả can thiệp nội mạch điều trị phình động mạch chủ bụng tại Bệnh viện Chợ Rẫy” Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân phình động mạch chủ bụng dưới thận được điều trị bằng can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Chợ Rẫy; Những trường hợp phình động mạch chủ bụng dưới động mạch thận được điều trị bằng phẫu thuật mở hoặc điều trị ngoại khoa không được mời tham gia nghiên cứu. Theo phân tích của BS Nút, có 30 bệnh nhân phù hợp được chọn tham gia nghiên cứu, trong đó nam giới 24 bệnh nhân, tuổi trung bình 73,8, có 21 đối tượng tăng huyết áp, 20 ca có hút thuốc lá, 13 ca có bệnh mạch vành, 11 ca có rối loạn mỡ máu; 3 ca có phình động mạch chủ ngực kèm.

BS Nút cho biết, trong điều trị phình động mạch chủ bụng, phương pháp can thiệp tiêu chuẩn là đặt ống ghép từ ngang dưới động mạch thận đến động mạch chậu chung 2 bên. Tuy nhiên có những trường hợp bệnh nhân có tổn thương hoặc giải phẫu không phù hợp vì vậy phẫu thuật viên cần có sự điều chỉnh đối với từng trường hợp. Cụ thể như chỉ đặt ống ghép động mạch chủ bụng đơn thuần hoặc đặt ống ghép động mạch chủ bụng đến động mạch chậu chung 1 bên hoặc đặt ống ghép động mạch chủ bụng đến động mạch chậu ngoài kèm làm tắc động mạch chậu trong. Trong nghiên cứu có 01 bệnh nhân được đặt ống ghép động mạch chủ bụng đơn thuần, đây là bệnh nhân chỉ có phình động mạch chủ bụng, không có phình động mạch chậu chung, đoạn động mạch chủ bụng trên và dưới túi phình đủ tiêu chuẩn về chiều dài, đường kính và chất lượng thành mạch để ống ghép bám vào.

BS Nút cho biết có 3 trường hợp được đặt ống ghép động mạch chủ bụng đến động mạch chậu 1 bên, kèm theo làm tắc động mạch chậu chung bên đối diện và thực hiện phẫu thuật cầu nối động mạch đùi – đùi, giúp rút ngắn thời gian can thiệp, vừa điều trị triệt để phình động mạch chậu chung kích thước lớn. Phẫu thuật này có thể sử dụng trong các trường hợp như hẹp hoặc tắc động mạch chậu, động mạch đùi 1 bên, động mạch chậu, động mạch đùi quá ngoằn nghoèo, động mạch chậu, động mạch đùi vôi hóa nhiều, Bóc tách động mạch chậu, động mạch đùi; Việc bung chân đối diện của ống ghép trong lòng động mạch chủ bụng khó khăn, lòng túi phình động mạch chủ bụng nhỏ do huyết khối bám nhiều, đường kính ngã 3 chủ - chậu nhỏ, do túi phình ngắn hoặc đối với những ca cấp cứu cần rút ngắn thời gian can thiệp.

BS Nút chia sẻ, có 8 ca được làm tắc động mạch chậu trong, mục đích là tránh biến chứng rò ống ghép loại 2 sau khi đặt ống ghép kéo dài đến động mạch chậu ngoài. Việc làm tắc động mạch chậu trong thực hiện cùng lúc với đặt ống ghép hoặc trước khi đặt ống ghép. Nếu làm tắc cả 2 động mạch chậu trong thì cần thực hiện cách nhau 1 tuần tránh gây thiếu máu đột ngột vùng chậu.

Theo báo cáo của tác giả nghiên cứu, thời gian nằm viện của đối tượng nghiên cứu trung bình là 7,6 ngày, ca ít nhất là 4 ngày, ca nhiều nhất là 26 ngày. Các bệnh nhân sinh hoạt bình thường sau can thiệp là 2 ngày.

Theo dõi 30 ngày sau can thiệp có 2 ca rò ống ghép loại II; 1 ca rò từ động mạch mạc treo tràng dưới, 1 ca rò từ động mạch thắt lưng. Trong trường hợp từ ống ghép loại II kèm tăng kích thước túi phình trên 10mm cần phải điều trị bằng tắc mạch ít xâm lấn. Kết quả theo dõi sau 15,6 tháng có 1 ca tử vong vào tháng thứ 6 do nhiễm trùng máu.

Theo BS Nút, các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra tỷ lệ tử vong tăng dần theo thời gian, chủ yếu do bệnh mạch vành, bệnh ung thư, biến cố đột quỵ. Vì vậy, tác giả nghiên cứu khuyến cáo sau can thiệp điều trị phình động mạch chủ bụng bệnh nhân cần tiếp tục điều trị nội khoa bệnh liên quan tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu để phòng ngừa các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch. Tác giả nghiên cứu kết luận can thiệp nội mạch là phương pháp điều trị hiệu quả, ít biến chứng và bệnh nhân hồi phục nhanh, sau can thiệp tỷ lệ bệnh nhân thành công cao với thời gian theo dõi 30 tháng.

Anh Duy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 108

Số lượt truy cập: 9359290

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang