[Đăng ngày: 11/07/2017]
Theo BS Nguyễn Thế Hiền – Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh, ghi nhận quần thể ung thư của thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 cho thấy ung thư cổ tử cung là loại ung thư thường gặp đứng thứ 2 ở phụ nữ sau ung thư vú. Ung thư cổ tử cung chiếm hơn 13% tổng số các ung thư ở phụ nữ, xuất độ theo tuổi là 14,7/100.000.

Ung thư cổ tử cung giai đoạn IB2, IIA2 theo phân loại của Hiệp hội Sản phụ khoa Quốc tế FIGO, trước đây được xem là giai đoạn sớm sang thương to, gần đây cho thấy là nhóm bệnh có tỷ lệ tái phát cao, làm giảm thời gian sống còn của người bệnh, kết quả điều trị có nhiều hạn chế. Vì vậy ung thư cổ tử cung giai đoạn IB2, IIA2 hiện được xếp vào giai đoạn bệnh tiến xa tại chỗ, tại vùng. Có nhiều tranh luận, quan điểm áp dụng điều trị, năm 2000 quan điểm hóa xạ trị triệt để đã được NCI chấp thuận, phác đồ điều trị này góp phần cải thiện thời gian sống còn của bệnh nhân.

BS Nguyễn Thế Hiền cho biết, tại Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ ung thư cổ tử cung giai đoạn IB2, IIA2 nhập viện khá nhiều, chiếm 25-30% các trường hợp ung thư cổ tử cung giai đoạn I, II. Từ tháng 1/2008 đến tháng 12/2009, BS Nguyễn Thế Hiền cùng cộng sự bệnh viện đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn IB2, IIA2 bằng phác đồ xạ trị tiền phẫu phối hợp phẫu thuật”.

Đối tượng nghiên cứu là 215 trường hợp được xác định giải phẫu bệnh là carcinôm tế bào gai, carcinôm tuyến, điều trị bằng xạ trị tiền phẫu gồm xạ trị ngoài và xạ trị trong có phối hợp với phẫu thuật werthein-Meigs. Thời điểm kết thúc theo dõi của nghiên cứu là ngày 01/7/2015. Bệnh nhân được nhóm nghiên cứu liên lạc qua thư, điện thoại, hồ sơ bệnh án, ghi nhận thông tin tái khám từ hệ thống quản lý bệnh viện e-Hospital. Những trường hợp bệnh nhân trễ hẹn hơn 6 tháng kể từ lần tái khám cuối, không liên lạc được điện thoại, thư từ gọi là mất dấu.

BS Nguyễn Thế Hiền báo cáo độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 46,1; tuổi nhỏ nhất là 29 tuổi. Nhóm 41-50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 44,2%; nhóm 31-40 tuổi chiếm gần 21%. Thời gian từ lúc bệnh nhân có triệu chứng đến ngày nhập viện trung bình là 4,52 tháng. Có 73% đối tượng nghiên cứu còn kinh nguyệt. Triệu chứng xuất huyết âm đạo bất thường và rong kinh rong huyết chiếm gần 62%.

Về kích thước bướu, kích thước sang thương cổ tử cung trung bình là 5,25cm, ca nhỏ nhất là 4cm, ca lớn nhất có kích thước 7cm. Sang thương dạng sùi chiếm nhiều nhất với 89%. Hiệp hội sản phụ khoa quốc tế FIGO và Tổ chức Y tế Thế giới quy ước đánh giá kích thước bướu dựa vào khám lâm sàng, tham khảo phương tiện chẩn đoán hình ảnh. Kích thước bướu là yếu tố tiên lượng rất quan trong, liên quan đến tỷ lệ tái phát tại chổ, là yếu tố tiên lượng độc lập với giai đoạn, với cách điều trị. Theo FIGO phân chia giai đoạn lâm sàng cũng gặp khó khăn khi đánh giá chính xác kích thước sang thương cổ tử cung giúp phát hiện mô bệnh lý và mô cổ tử cung bình thường. MRI chính xác hơn cả CT scan trong đánh giá kích thước bướu của ung thư cổ tử cung.

BS Hiền nhận xét, siêu âm không phải là phương pháp lý tưởng để chẩn đoán hạch chậu di căn. Phương pháp chụp CT độ nhạy cũng không cao hơn siêu âm trong chẩn đoán hạch chậu.

Khi kích thước trên 10mm, thậm chí 15mm mới có thể kết luận nghi ngờ di căn. Theo FIGO di căn hạch chậu không làm thay đổi xếp giai đoạn bệnh trên lâm sàng, nhưng về phương diện bệnh học di căn hạch chậu là yếu tố trên lượng bệnh rất quan trọng. Đây cũng chính là sự khác biệt giữa 2 hệ thống phân loại FIGO và TNM BS Hiền cho biết trong nghiên cứu sau mổ. Có 32% trường hợp có bằng chứng di căn hạch chậu dựa trên kết quả giải phẫu bệnh. Chẩn đoán dự báo sớm sự di căn hạch từ tổn thương ung thư vùng chậu là mục tiêu quan trọng đối với chẩn đoán hình ảnh. Xâm lấn khoang mạch máu bạch huyết và di căn hạch là một cơ chế quan trọng của dự gieo rắc bướu bên cạnh sự lan theo đường máu và xâm lấn trực tiếp tại chỗ. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có 23/215 trường hợp bệnh tiếp tục tiến triển, chiếm tỷ lệ 10,7%. Sau đó có thêm 31 trường hợp tái phát, trong đó có 24 trường hợp tái phát trong vùng chậu không có di căn xa đi kèm, có 7 trường hợp tái phát đi kèm tổn thương di căn xa. Tái phát tại diện cắt âm đạo có 9 trường hợp, tái phát trung tâm vùng chậu có 15 trường hợp. Vị trí di căn xa là phổi, hạch cạnh động mạch chủ bụng và hạch trên đòn.

Qua theo dõi thời gian sống còn toàn bộ 3 năm là 69%, sống còn toàn bộ 5 năm là 49%. Như vậy, bướu càng lớn thời gian sống còn càng giảm. Kích thước bướu có liên quan đến tỷ lệ di căn hạch, di căn xa dẫn đến thất bại trong điều trị. Thường trên lâm sàng bướu không nhìn thấy tỷ lệ sống còn của bệnh nhân không bệnh sau 3 năm đạt 94,6% nếu bướu có kích thước lớn hơn 3 cm, tỷ lệ này giảm xuống còn 69%. BS Hiền cho rằng cần có chiến lược điều trị cá nhân hóa, tư vấn cho người bệnh đầy đủ và phải dựa trên năng lực điều trị của từng trung tâm. Nên chỉ định chụp CT cho tất cả giai đoạn IB2, IIA2 với mục tiêu đánh giá hạch chậu chính xác giúp chọn được phác đồ điều trị phù hợp.   

Huy Hoàng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 113

Số lượt truy cập: 9359357

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang