[Đăng ngày: 03/02/2017]

Tăng huyết áp (THA) là bệnh tim mạch phổ biến trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, tần suất THA hiện nay khoảng 25,1.

THA không những là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong các bệnh lý tim mạch mà THA còn là yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh động mạch chi dưới. Bệnh động mạch chi dưới có thể được chẩn đoán bằng nhiều kỹ thuật. Siêu âm Doppler là kỹ thuật đang được sử dụng rộng rãi giúp đánh giá mức độ hẹp, tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi người khám có kinh nghiệm, tốn nhiều thời gian và đắt tiền. Gần đây, các hiệp hội tim mạch trên thế giới đã khuyến cáo sử dụng chỉ số ABI để chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới. Đây là phương pháp chẩn đoán không xâm lấn, đơn giản, thuận tiện cho chẩn đoán trong bệnh viện và tại cộng đồng.

Nghiên cứu cho thấy khi chỉ số ABI < 0,9 thì nguy cơ tử vong tim mạch tăng gấp 5,5 lần và nguy cơ bệnh động mạch vành, đột quỵ tăng gấp 2,5 lần. Vì vậy, việc sử dụng chỉ số này để chẩn đoán sớm bệnh động mạch chi dưới là rất quan trọng, giúp chúng ta có thể can thiệp kịp thời nhằm làm giảm những tàn phế và tử vong do bệnh lý này gây nên.

Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Viết An, Trần Minh Phát – Trường Đại học Y dược Cần Thơ tiến hành nghiên cứu đề tài “Tổn thương động mạch chi dưới bằng chỉ số cổ chân – cánh tay và siêu âm Doppler ở bệnh nhân THA nguyên phát”.

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang; đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, đồng ý tham gia, được chẩn đoán THA nguyên phát theo khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam: THA khi huyết áp tâm thu > 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương > 90mmHg hoặc được chẩn đoán THA trước đó và đang điều trị các thuốc chống THA.

Theo tác giả nghiên cứu, các bước tiến hành nghiên cứu gồm: Thăm khám, hỏi bệnh ghi nhận các thông tin chung về tiền sử, xét nghiệm sinh hóa, siêu âm Doppler động mạch chi dưới, đo huyết áp và tính ABI. Sử dụng máy LifeDop 250AC với đầu dò 8MHz. Bệnh nhân được đo huyết áp khi đã nghỉ ngơi 5-10 phút, tư thế nằm ngửa. Đặt băng quấn ở cánh tay, túi hơi bao phủ ít nhất 40% chu vi cánh tay, thoa gel ở nơi sờ thấy nhịp đập, đặt đầu dò ở một góc từ 45 độ đến 60 độ so với bề mặt của da, di chuyển đầu dò sao cho tín hiệu nghe rõ nhất. Bơm áp lực đến khi tín hiệu dòng chảy biến mất, bơm thêm 20 mmHg, giảm áp lực tốc độ 2mmHg/giây. Khi có dòng máu chảy qua động mạch cánh tay, máy phát hiện được tín hiệu thông qua đầu dò Dopper và phát ra bằng âm thanh ghi nhận giá trị huyết áp tâm thu. Sau đó, đặt băng quấn phía trên nếp gấp cổ chân cùng bên, tư thế gối thẳng, mép dưới băng quấn trên nếp gấp cổ chân 2 cm, đặt đầu dò Dopper lần lượt ở động mạch mắt cá chân, rồi đến động mạch mu chân, cách đo và ghi nhận huyết áp tâm thu tương tự như ở động mạch cánh tay. Lặp lại các bước cho bên còn lại theo thứ tự: động mạch mắt cá chân, động mạch mu chân và động mạch cánh tay sau cùng. Tính chỉ số ABI cho mỗi bên bằng cách chia huyết áp tâm thu cao hơn (ở động mạch mu chân hay mắc cá chân) cho huyết áp tâm thu cánh tay ở cùng bên. Chỉ số ABI cho từng bệnh nhân được tính bằng cách chọn giá trị của chỉ số ABI thấp hơn của một trong hai bên. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới dựa theo khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam (2010), ACC/AHA (2006), TASC II (2007) và ESH (2011) khi chỉ số ABI < 0,9.

Kết quả nghiên cứu theo phân tích của tác giả Trần Viết An, có 190 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tham gia nghiên cứu; trong đó có 133 nữ, 57 nam. Độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 62,9; chỉ số khối cơ thể BMI là 24,4kg/m2; huyết áp tâm thu 150mmHg; huyết áp tâm trương 90mmHg; thời gian THA trung bình 5 năm.

Bác sĩ Trần Viết An cho rằng sự phổ biến của bệnh động mạch chi dưới thay đổi tùy theo dân số nghiên cứu, phương pháp chẩn đoán được sử dụng. Đa số các nghiên cứu về bệnh động mạch chi dưới sử dụng chỉ số ABI để chẩn đoán. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh động mạch chi dưới xác định theo chỉ số ABI dao động từ khoảng 4% ở những người từ 40 tuổi trở lên đến 15% đến 20% trong số những người từ 65 tuổi trở lên. Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân bị bệnh động mạch chi dưới được chẩn đoán khi ABI < 0,9 là 13,7%.

Tác giả nghiên cứu lưu ý tần suất THA ở Việt Nam hiện nay chiếm khoảng một phần tư dân số ở người > 25 tuổi và tỷ lệ bệnh động mạch chi dưới trong đối tượng này khá cao. Cho nên, đây thực sự là vấn đề rất đáng quan tâm vì bệnh động mạch chi dưới có liên quan chặt chẽ đến các biến cố tim mạch và tử vong.

Tuổi là một trong những yếu tố nguy cơ của xơ vữa động mạch và bệnh động mạch chi dưới. Tần suất bệnh động mạch chi dưới tăng dần theo tuổi, tuổi càng cao thì tần suất mắc bệnh động mạch chi dưới càng tăng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh động mạch chi dưới ở đối tượng >70 tuổi chiếm 31,5% cao hơn ở đối tượng < 70 tuổi là 6,6%. Tỷ số chênh chỉ ra rằng nhóm tuổi >70 có nguy cơ mắc bệnh động mạch chi dưới cao hơn gấp 6,48 lần so với nhóm tuổi <70 và sự khác biệt giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê (p<0,001).

Do tuổi là yếu tố không thay đổi được, nên vấn đề cần thiết là phát hiện được bệnh ở giai đoạn sớm để có thể can thiệp, kiểm soát các yếu tố nguy cơ và làm chậm tiến triển của bệnh. Hiện nay, khuyến cáo đưa ra tiêu chí cần tầm soát bệnh động mạch chi dưới ở những người <50 tuổi kèm theo có đái tháo đường và một yếu tố nguyên nhân khác hoặc người từ 50-69 tuổi có hút thuốc lá hay đái tháo đường hoặc những người >70 tuổi.

Rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh THA là một yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch chi dưới. Nghiên cứu của Framingham theo dõi trong 26 năm cho thấy nguy cơ tương đối của bệnh động mạch chi dưới ở người THA là 2,5 với nam và 3,9 với nữ, mức độ tăng tỷ lệ thuận với mức độ trầm trọng của THA. Nghiên cứu UKPDS kết luận rằng THA là yếu tố nguy cơ độc lập với bệnh động mạch chi dưới, khi tăng mỗi 10mmHg huyết áp tâm thu thì gây tăng 25% nguy cơ bệnh động mạch chi dưới. Nghiên cứu của tác giả ghi nhận nhóm bệnh nhân THA độ III có bệnh động mạch chi dưới chiếm tỷ lệ 28,8%, kế đến là THA độ II là 5,7%, sự khác biệt giữa các mức độ THA có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Tỷ số chênh cho thấy rằng THA độ III có nguy cơ mắc bệnh động mạch chi dưới cao hơn gấp 6,7 lần so với THA độ II (KTC 95%: 2,38-18,87). Khi tìm hiểu về liên quan giữa bệnh động mạch chi dưới và thời gian phát hiện THA, kết quả nghiên cứu ghi nhận nhóm bệnh nhân có thời gian phát hiện THA > 5 năm có bệnh động mạch chi dưới chiếm tỷ lệ 24,7%, cao hơn nhiều so với nhóm có thời gian phát hiện THA < 5 năm 2,2%, sự khác biệt giữa hai nhóm thời gian phát hiện THA có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Tỷ số chênh chỉ ra rằng nhóm có thời gian phát hiện THA > 5 năm có nguy cơ mắc bệnh động mạch chi dưới cao hơn gấp 14,96 lần so với nhóm có thời gian phát hiện THA < 5 năm (KTC 95%: 3,42-65,39). Nghiên cứu Framingham còn ghi nhận rằng THA giai đoạn 1 làm tăng nguy cơ bệnh động mạch chi dưới lên 1,5 lần so với nhóm không THA (p=0,009), với THA giai đoạn 2 thì nguy cơ đó là 2,2 (p=0,0001). Do đó, việc kiểm soát tốt huyết áp là một trong những biện pháp hữu hiệu để làm giảm nguy cơ mắc và ngăn ngừa tiến triển của bệnh động mạch chi dưới.

Hiện nay, có rất nhiều kỹ thuật được sử dụng để chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới, trong đó chụp động mạch cản quang được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới. Tuy nhiên, đây là kỹ thuật mặc dù ít xâm lấn nhưng tốn nhiều thời gian, chi phí lớn nên thường chỉ được sử dụng khi thật sự cần thiết. Siêu âm Doppler từ lâu được biết đến như là một kỹ thuật kinh điển trong chẩn đoán các bệnh lý về mạch máu. Siêu âm là kỹ thuật không xâm lấn, cung cấp thông tin chính xác để đánh giá vị trí mức độ hẹp động mạch, tình trạng huyết động, hình thái tổn thương và nguyên nhân của hẹp động mạch. Giá trị của siêu âm Doppler được chứng minh là có độ nhạy từ 80% đến 98% và độ đặc hiệu từ 89% đến 99% so với chụp động mạch trong chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới. Tuy nhiên, thời gian gần đây, qua nhiều công trình nghiên cứu các hiệp hội tim mạch lớn trên thế giới khuyến cáo sử dụng chỉ số ABI để chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới. Giá trị chỉ số ABI <0,9 được khuyến cáo là ngưỡng để chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới. Đây là phương pháp chẩn đoán không xâm lấn, đơn giản, độ chính xác cao, thuận tiện rất phù hợp cho những nghiên cứu lớn thực hiện tại cộng đồng. Siêu âm Doppler có ý nghĩa chẩn đoán khi động mạch chi dưới bị hẹp > 50%.

Trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu chọn siêu âm Doppler hẹp > 50% động mạch chi dưới làm tiêu chuẩn và xác định được độ nhạy của ABI là 87,5% và độ đặc hiệu 93,1%. Độ nhạy, độ đặc hiệu của ABI được rất nhiều nghiên cứu trên thế giới mô tả. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này đều chọn chụp động mạch cản quang làm tiêu chuẩn vàng và độ nhạy của ABI trong chẩn đoán hẹp 50% động mạch chi dưới là 90% đến 95% và độ đặc hiệu 98% đến 100%. Khi phân tích tương quan giữa mức độ hẹp theo siêu âm Doppler và giá trị của chỉ số ABI, tác giả nhận thấy mức độ hẹp theo Doppler có mối tương quan nghịch, mạnh với chỉ số ABI (r = -0,7; p < 0,001). Điều này có nghĩa là khi động mạch chi dưới hẹp càng nhiều thì chỉ số ABI càng giảm.

Tường Huân

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 227

Số lượt truy cập: 9360683

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang