Tác giả Huỳnh Hồng Quang cùng cộng sự Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Quy Nhơn, đã có báo cáo về trùng roi Trypanosoma Evansi.
Đối với cơ chế nhiễm bệnh và phát sinh các triệu chứng: Bệnh tiến triển sau khi lây truyền ký sinh trùng vào trong máu do bị đốt bởi ruồi tsetse làm nhiễm mầm bệnh. Ban đầu các trypaosome nhân lên trong mô dưới da, máu và hệ bạch huyết. Khi đó, ký sinh trùng vượt qua hàng rào máu não gây nhiễm trùng cho hệ thần kinh trung ương. Quá trình này có thể diễn ra nhiều năm với T.b. gambiense.
Nhiễm trùng từ mẹ sang con: các trypanosome có thể qua nhau thai, nhiễm cho phôi thai; Truyền bệnh cơ học vẫn có thể xảy ra, song khó có thể đánh giá tác động về mặt dịch tễ học lan truyền thông qua côn trùng hút máu khác; Nhiễm trùng tình cờ có thể xảy ra trong phòng thí nghiệm do chích máu từ kim tiêm nhiễm bệnh.
Giai đoạn đầu khởi phát của bệnh, giai đoạn máu-bạch huyết (haemolymphatic phase), theo thứ tự là sốt, nhức đầu, đau khớp, ngứa.
Giai đoạn thứ hai gọi là pha thần kinh, bắt đầu khi ký sinh trùng đi qua hàng rào máu não và xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương. Nói chung, khi đó triệu chứng thần kinh của bệnh xuất hiện, lú lẩn, rối loạn cảm giác và phối hợp động tác yếu. Các rối loạn khác là rối loạn chu kỳ sinh học giấc ngủ và do đó bệnh có tên là bệnh ngủ cũng là đặc điểm quan trọng của giai đoạn thứ hai của bệnh. Nếu không điều trị, bệnh ngủ có thể tử vong.
Đặc điểm lâm sàng: Giai đoạn 1 (giai đoạn sớm – giai đoạn tan máu hemolymphatic) – Các săng ở da không đau xuất hiện khoảng 5-15 ngày sau khi bị đốt, nhưng sau đó tự thoái lui tự phát sau vài tuần (dấu hiệu này ít gặp hơn ở nhiễm trùng T.brucei gambiense); Sốt từng cơn (song không đáp ứng với thuốc sốt rét khi thử), toàn thân khó chịu, đau cơ, đau khớp và nhức đầu, thường 3 tuần sau khi bị đốt; Xuất hiện hạch lympho toàn thân hoặc một vùng nào đó (chẳng hạn bệnh lý hạch sau cổ hay dấu Winterbottom là đặc trưng cho bệnh lý African trypanosomiassis do T.brucei gambiense; Phù mặt, chỉ một số nhỏ trên bệnh nhân; Nổi mày đay thoáng qua, ban đỏ, ban dạng vết trên da xuất hiện sau 6-8 tuần kể từ khi khởi bệnh; Hình ảnh “trypanids” (tính chất đau, nhạt màu ở trung tâm, nhanh mờ, hình vành khuyên, có các vết ban đỏ phù nề trên thân mình.)
Giai đoạn 2 (muộn – giai đoạn tổn thương thần kinh trung ương) – Nhức đầu giai dẳng (không đáp ứng với thuốc giảm đau); Ngủ gà hoặc buồn ngủ ban ngày nhưng lại mất ngủ ban đêm; Thay đổi hành vi, ngữ điệu và điệu bộ nhún nhảy trên một số bệnh nhân, trầm cảm; Chán ăn, sút cân và hội chứng suy mòn; Cơn động kinh trên trẻ em (hiếm gặp trên người lớn).
Trên lâm sàng chúng ta thướng phát hiện các triệu chứng: chán ăn, buồn ngủ, sốt, nhức đầu; tăng ngủ ban ngày, mất ngủ ban đêm; rối loạn ngôn ngữ, ý thức; ra mồ hôi; sưng phồng hạch lympho trên toàn cơ thể; sưng, đỏ, đau các vị trí ruồi đốt. Sự ham muốn và giấc ngủ đến không thể khống chế được. Các biến chứng gồm các thương tổn liên quan ngủ thiếp đi khi đang lái xe hoặc thực hiện các hoạt động do tiến trình tổn thương hệ thần kinh.
Khám thực thể phát hiện bệnh: Giai đoạn 1 – Hình thành các săng cứng và chai tại vị trí bị đốt; Các tổn thương da trên các bệnh nhân da sáng màu dễ thấy; Bệnh lý hạch lympho, bệnh hạch lympho ở bẹn và nách thường gặp trên các bệnh nhân mắc bệnh đơn bào Đông Phi. Các bệnh lý hạch lympho ổ cổ lại hay gặp trên các bệnh nhân nhiễm đơn bào Tây Phi. Dấu hiệu Winterbottom cổ điển có thể nhìn thấy rất rõ (lớn, không đau, di động phía sau cổ); Sốt, đổ mồ hôi, đỏ da vùng bị đốt, tăng nhịp tim, phát ban không theo quy luật nào; Phù, sụt cân, sưng hạch lympho, phì đại phủ tạng, đặc biệt lách lớn (do T.brucei gambiense).
Giai đoạn 2 – Triệu chứng ở hệ thần kinh trung ương: Các hội chứng ở hệ thần kinh của bệnh do đơn bào Tây Phi có một khởi đầu bệnh chậm hơn, có thể vài tháng đến một năm. Các triệu chứng bao gồm kích thích ngứa, khó chịu, dấu rung rũ cánh, tăng cứng cơ, trương lực cơ, thỉnh thoảng mất điều hòa, dị cảm một bên, nhưng hiếm khi có các dấu màng não một cách điển hình. Bệnh do ký sinh trùng Đông Phi thường diễn tiến và khởi bệnh nhanh hơn, từ vài tuần đến vài tháng, không biểu hiện sự khác biệt giữa hai giai đoạn; Dấu Kerandel, gồm có đau chậm khi đè lên bề mặt mô mềm của bệnh nhân; Thay đổi hành vi phù hợp với loạn thần và rối loạn tâm thần kinh, lời nói và co giật; Dấu rung rũ cánh, dấu sững sờ và hôn mê (bệnh ngủ); Rối loạn tâm thần kinh; Rối loạn cảm giác, rung rũ và thất điều.
Xét nghiệm cận lâm sàng: Khám thực thể có thể cho các triệu chứng của bệnh lý viêm não, màng não. Các xét nghiệm bao gồm: Nồng độ albumine; xét nghiệm lam máu; xét nghiệm và phân tích thành phần của dịch não tủy; công thức máu toàn phần (CBC); nồng độ globuline; chọc sinh thiết, xét nghiệm hạch lympho. Hầu hết các thử nghiệm kháng nguyên và khán thể không giúp ích gì nhiều cho chẩn đoán vì chúng không thể phân biệt giữa tình trạng nhiễm hiện tại và nhiễm trong quá khứ. Song, nồng độ IgM đặc hiệu trong dịch não tủy có thể giúp cho chẩn đoán.
Hữu Lai