Tại Hội nghị Khoa học của Bệnh viện Nhân dân Gia Định năm 2016, ThS.BS Võ Văn Tân- Khoa Nội Thần kinh báo cáo đề tài nghiên cứu “Kết quả điều trị thuốc huyết khối đường tĩnh mạch liều chuẩn và liều thấp trên bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp”.
Nghiên cứu được thực hiện trên 82 bệnh nhân thỏa tiêu chí sử dụng thuốc tiêu huyết khối đường tĩnh mạch, phân bố vào 2 nhóm điều trị, liều thấp alteplase tĩnh mạch (0,6 mg mỗi kg trọng lượng cơ thể) hoặc liều chuẩn 0,9 mg/kg. Bệnh nhân được theo dõi trong 90 ngày điều trị, xác định mức độ cải thiện phục hồi chức năng thần kinh dựa vào thang điểm Rankin từ 0 (không có triệu chứng) đến 6 (chết).
Kết quả nghiên cứu theo báo cáo của BS.Tân, nhóm bệnh nhân được điều trị tiêu sợi huyết liều thấp có mức hồi phục tương tự đối với nhóm dùng liều chuẩn vào thời điểm 3 tháng (47,5% so với 47,6%); tỷ lệ tử vong và tỷ lệ xuất huyết não có triệu chứng giữa hai nhóm tương đương nhau (10% so với 9,5%).
Tác giả nghiên cứu kết luận điều trị tiêu huyết khối an toàn, hiệu quả ở cả liều thấp và liều chuẩn khi thực hiện đúng hướng dẫn điều trị. Tuy nhiên, tác giả khuyến nghị cần có nghiên cứu cỡ mẫu lớn, thiết kế ngẫu nhiên, mù đôi để có sự so sánh tốt, tìm ra liều tối ưu cho người Việt Nam.
Chúng ta biết rằng, đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu hiện nay. Đột quỵ xảy ra khi một mạch máu trong não bị vỡ, hoặc thường gặp hơn khi có tắc nghẽn mạch máu cung cấp máu cho não. Nếu không điều trị kịp thời, các tế bào trong não bắt đầu chết. Kết quả là cơ thể bị tàn tật nghiêm trọng sau điều trị hoặc tử vong. Một người đang có các triệu chứng đột quỵ cần phải được cấp cứu kịp thời, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Các dấu hiệu của đột quỵ: cảm giác tê đột ngột hoặc yếu cơ thể, đặc biệt là ở một bên; mất tầm nhìn một hoặc cả hai mắt, hoặc khó nuốt; đột ngột đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân; đột ngột chóng mặt; nhầm lẫn bất ngờ, khó nói hoặc khó hiểu người khác nói.
Trong đột quỵ, thời gian có mối liên quan chặt chẽ với tổn thương não. Mỗi một giây là thời gian vàng khi tìm cách điều trị cho một cơn đột quỵ. Khi thiếu oxy, các tế bào não bắt đầu chết trong vòng vài phút. Có nhiều loại thuốc làm tan huyết khối, có thể hạn chế tổn thương não nhưng cần phải được sử dụng trong vòng 3 đến 4,5 giờ khi các triệu chứng đột quỵ đầu tiên xuất hiện. Khi mô não đã chết, các bộ phận cơ thể được kiểm soát bởi khu vực đó sẽ không làm việc đúng cách. Đây là lý do tại sao đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu của tình trạng tàn tật lâu dài.
Đối với nguyên nhân của đột quỵ: nguyên nhân phổ biến là do xơ vữa động mạch - xơ cứng động mạch. Mảng bám chất béo, cholesterol, canxi và các chất khác tích tụ trong lòng động mạch làm máu lưu thông hạn chế. Cục máu đông có thể xuất hiện và gây ra cơn đột quỵ thiếu máu cục bộ. Xơ vữa động mạch làm cho cục máu đông hình thành dễ dàng hơn. Đột quỵ xuất huyết thường là do không kiểm soát được huyết áp cao, gây vỡ động mạch.
Các yếu tố nguy cơ của đột quỵ:
- Một số bệnh mãn tính làm tăng nguy cơ đột quỵ, bao gồm: huyết áp cao; cholesterol máu cao; bệnh tiểu đường; béo phì. Kiểm soát tốt những bệnh mạn tính trên có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ.
- Một số hành vi làm tăng nguy cơ đột quỵ như hút thuốc lá, không tập thể dục hoặc tập quá ít, sử dụng nhiều rượu bia…
- Chế độ ăn giàu chất béo, nghèo chất xơ có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ. Chế độ ăn nhiều trái cây, rau, ngũ cốc nguyên hạt và cá có thể giúp giảm nguy cơ đột quỵ.
- Một số yếu tố nguy cơ đột quỵ ngoài tầm kiểm soát như tuổi cao hoặc có tiền sử gia đình đột quỵ, nam giới có nhiều khả năng đột quỵ hơn nữ giới. Tuy nhiên, nhiều trường hợp tử vong do đột quỵ vẫn xảy ra ở phụ nữ.
Xử lý khẩn cấp đột quỵ: đối với một cơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ, điều trị cấp cứu tập trung vào dùng thuốc để phục hồi lưu lượng máu não. Thuốc làm tan huyết khối có hiệu quả làm tan cục máu đông và giảm thiểu biến chứng lâu dài, nhưng phải được dùng càng sớm càng tốt, trong vòng 3 - 4,5 giờ đối với một số người từ khi xuất hiện các triệu chứng đột quỵ đầu tiên. Tuy nhiên đột quỵ xuất huyết khó kiểm soát hơn, trường hợp cần thiết bác sĩ sẽ phẫu thuật. Điều trị thường bao gồm cố gắng để kiểm soát huyết áp cao, chảy máu và phù não.
Hậu quả của đột quỵ phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của cơn đột quỵ và phương pháp điều trị ổn định não một cách nhanh chóng. Các di chứng còn phụ thuộc vào vị trí tổn thương ở não. Vấn đề thường gặp sau khi bị đột quỵ bao gồm tê và/hoặc yếu ở tay hoặc chân, đi lại khó khăn, hạn chế tầm nhìn, khó nuốt và rối loạn ngôn ngữ. Các di chứng có thể là vĩnh viễn, nhưng nhiều người có thể hồi phục hoàn toàn.
Phòng ngừa đột quỵ
Thay đổi lối sống: những người đã từng đột quỵ hoặc đột quỵ thoáng qua có thể thực hiện các bước sau để ngăn ngừa tái phát: Bỏ hút thuốc lá; tập thể dục và duy trì một trọng lượng cơ thể khỏe mạnh; hạn chế uống rượu và ăn mặn; chế độ ăn uống lành mạnh với nhiều rau, cá và các loại hạt.
Dùng thuốc: Đối với những người có nguy cơ cao bị đột quỵ, bác sĩ sẽ kê đơn thuốc để giảm nguy cơ này.Thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (aspirin, kết hợp aspirin /dipyridamole, clopidogrel, và ticlopidine) ngăn chặn hình thành cục máu đông. Thuốc chống đông máu như Warfarin có thể cần thiết để giúp tránh đột quỵ ở một số bệnh nhân. Cuối cùng là kiểm soát huyết áp thật tốt ở những người bị huyết áp cao và điều trị tốt các bệnh mạn tính có thể gây đột quỵ như tiểu đường, cholesterol máu cao.
Phẫu thuật: Trong một số trường hợp, đột quỵ xuất hiện do một động mạch cảnh bị hẹp (mạch máu đi lên mỗi bên cổ để mang máu lên não). Những người đã bị đột quỵ nhẹ hay thiếu máu não thoáng qua do hẹp động mạch cảnh có thể được phẫu thuật để giúp ngăn ngừa đột quỵ trở lại. Các bác sĩ cũng có thể điều trị động mạch cảnh bị tắc mà không cần phẫu thuật lớn trong một số trường hợp bằng phương pháp nong mạch, đặt stent.
Văn Hanh