Từ tháng 10/2015 đến tháng 01/2016, BS. Huỳnh Bá Phương Linh cùng cộng sự Khoa Y tế Công cộng- Trường Đại học Y Dược Huế thực hiện nghiên cứu “Mức độ văn hoá sức khoẻ và một số yếu tố liên quan của người dân tại phường Thuỷ Xuân, TP. Huế”.
Theo tác giả nghiên cứu, tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là những người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên; đang sinh sống tại phường Thuỷ Xuân, Tp.Huế; có mặt tại thời điểm khảo sát và có thời gian sống tại địa phương từ 2 năm trở lên; đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Đối với phương pháp thu thập số liệu, các mức độ của văn hoá sức khoẻ được đo lường bằng công cụ khảo sát văn hoá sức khoẻ Châu Á (HLS-Asia-Q) được phát triển dựa trên công cụ khảo sát văn hoá sức khoẻ Châu Âu (HLS-EU-Q). Bộ công cụ này đã được dịch sang tiếng Việt, việt hoá hợp lý và đã được chuẩn hoá bộ công cụ, sử dụng đầu tiên trong các nghiên cứu tại Hải Phòng và Hà Nội.
Cách chuẩn hoá và đánh giá mức độ văn hoá sức khoẻ dựa trên nghiên cứu so sánh mức độ văn hoá sức khoẻ tại 8 nước Châu Âu. Về chỉ số kết quả, 0 đại diện cho mức độ văn hoá sức khoẻ thấp nhất và 50 là mức độ văn hoá sức khoẻ cao nhất. Cách đánh giá: từ 0-25: mức độ văn hoá sức khoẻ không đầy đủ; từ 26-33: mức độ văn hoá sức khoẻ có vấn đề; từ 34-42: mức độ văn hoá sức khoẻ đầy đủ; từ 43-50: mức độ văn hoá sức khoẻ rất đầy đủ.
Trong nghiên cứu này, mức độ văn hoá sức khoẻ chung còn được phân thành hai nhóm: trên 33: đầy đủ về văn hoá sức khoẻ chung; từ 33 trở xuống: hạn chế về văn hoá sức khoẻ chung.
BS.Huỳnh Bá Phương Linh báo cáo kết quả cho thấy số đối tượng nghiên cứu được chọn là 633 người. Nữ giới chiếm tỷ lệ 56,2% ; nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 25-34 tuổi (26,9%). Những người được phỏng vấn chủ yếu đã kết hôn (78,2%) và đã có con (79,1%). Người dân theo tôn giáo chiếm đến 70,6%; người dân có trình độ học vấn Trung cấp-Cao đẳng- Đại học trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (25,6%). Tỷ lệ đối tượng có người thân được đào tạo hoặc làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ rất thấp (10,4%).
Tỷ lệ người dân thường xuyên hoặc thỉnh thoảng xem các chương trình truyền hình có liên quan đến y học khá cao (60%) nhưng việc tra cứu thông tin có liên quan đến y học trên internet lại thấp, chỉ có 33,9%; đặc biệt người dân hiếm khi hoặc chưa bao giờ được tham gia khoá học hoặc hội thảo liên quan đến sức khoẻ là rất cao (90,5%). Kênh truyền thông người dân thường sử dụng để tiếp cận thông tin về sức khoẻ chủ yếu qua truyền hình, đài phát thanh, internet (79,2%); qua người thân (25,6%); qua sách báo, tờ rơi, áp phích, pano (20,3%); qua nhân viên y tế (15,7%) và ít nhất là qua các khoá học, hội thảo về sức khoẻ (3,3%).
Về đặc điểm sức khoẻ cá nhân của đối tượng nghiên cứu; tác giả nghiên cứu phân tích có 10,6% người được phỏng vấn có tình trạng sức khoẻ xấu hoặc rất xấu. Tỷ lệ người dân từng gặp phải vấn đề sức khoẻ hoặc bị ốm dài ngày (từ 6 tháng trở lên) là 15,3% và tỷ lệ người dân gặp các vấn đề sức khoẻ gây hạn chế hoạt động thường ngày trong ít nhất 6 tháng qua, chiếm 24,6%. Tỷ lệ người dân không sử dụng bảo hiểm y tế là 14,1%; người dân phần lớn sử dụng bảo hiểm y tế nhà nước (80,7%), trong đó chủ yếu là bảo hiểm y tế tự nguyện (56,2%). Tỷ lệ người dân thường xuyên đi khám sức khoẻ định kỳ chưa cao (41,7%).
Những hành vi tác động đến sức khoẻ của người dân trong nghiên cứu bao gồm: 22,6% người dân có hút thuốc lá; 40,6% có sử dụng đồ uống có cồn ở mức nguy cơ đối với cơ thể; 47,7% có tập thể dục từ 30 phút trở lên và tỷ lệ người dân tích cực tham gia hoạt động cộng đồng vẫn chưa nhiều, chiếm 34,8%.
Đối tượng nghiên cứu nhóm buôn bán, nội trợ chiếm gần 40%; có đến 91,3% đối tượng nghiên cứu chưa được tập huấn hoặc làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu từng gặp khó khăn trong chi trả các chi phí sinh hoạt hàng tháng trong 12 tháng gần đây là 45,2%; thu nhập trung bình hàng tháng tại hộ gia đình mức khá trở lên chiếm đến 97,5%. Đối tượng nghiên cứu tự đánh giá sức khoẻ của bản thân so với những người cùng tuổi và giới chủ yếu là trung bình (56,7%). Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu cho rằng sức khoẻ quan trọng hơn công việc là gần 70%.
Về mức độ văn hoá sức khoẻ của người dân, chỉ số văn hoá sức khoẻ dao động trong khoảng từ 0-50. Trung bình chỉ số văn hoá sức khoẻ chung của nghiên cứu là 28,78 + 8,69. Tỷ lệ người trưởng thành có hạn chế về mức độ văn hoá sức khoẻ chung (chỉ số văn hoá sức khoẻ < 33) là 71,3%. Các tỷ lệ về mức độ văn hoá sức khoẻ trong các nhóm (chăm sóc sức khoẻ, phòng bệnh, nâng cao sức khoẻ ) tương đối đồng đều.
Phân tích yếu tố liên quan đến mức độ văn hoá sức khoẻ của người dân, BS. Phương Linh cho biết có sự liên quan giữa mức độ văn hoá sức khoẻ của người dân với 7 yếu tố bao gồm: trình độ học vấn, tần suất người dân tra cứu thông tin liên quan đến y học trên internet, nhóm có sử dụng bảo hiểm y tế, đi khám sức khoẻ định kỳ, tập thể dục từ 30 phút trở lên; khả năng chi trả dịch vụ y tế khi cần chăm sóc sức khoẻ và nhận định về tầm quan trọng của sức khoẻ.
Cụ thể, những người dân có trình độ học vấn THPT có mức độ văn hoá sức khoẻ đầy đủ cao hơn 2,88 lần so với người có trình độ học vấn THCS trở xuống (p<0,001). Nhóm người thường xuyên/ thỉnh thoảng tra cứu thông tin có liên quan đến y học trên internet bằng máy tính hay điện thoại có mức độ văn hoá sức khoẻ đầy đủ cao hơn 1,90 lần so với nhóm hiếm khi, hoặc chưa bao giờ tra cứu (p<0,05). Nhóm người dân sử dụng bảo hiểm y tế hỗ trợ từ Chính phủ có mức độ văn hoá sức khoẻ đầy đủ thấp hơn 0,21 lần người dân không sử dụng bảo hiểm y tế (p<0,05). Người dân có đi khám sức khoẻ định kỳ có mức độ văn hoá sức khoẻ đầy đủ cao hơn 2,07 lần so với người không đi khám (p<0,05). Người dân tập thể dục mỗi ngày từ 30 phút trở lên có mức độ văn hoá sức khoẻ đầy đủ cao hơn 1,65 lần so với người không đi tập (p<0,05). Nhóm người dân dễ dàng chi trả dịch vụ y tế khi cần chăm sóc sức khoẻ có mức độ văn hoá sức khoẻ đầy đủ cao hơn 3,2 lần so với nhóm người gặp khó khăn khi chi trả (p<0,05). Người dân nhận định sức khoẻ quan trọng hơn nghề nghiệp có mức độ văn hoá sức khoẻ đầy đủ cao hơn 1,92 lần so với nhóm người có nhận định khác (p<0,05).
Tác giả nghiên cứu lưu ý kết quả nghiên cứu mức độ văn hoá sức khoẻ của người dân phường Thuỷ Xuân thấp hơn khi so sánh với các nghiên cứu tương tự thực hiện tại Tp. Hải Phòng và Hà Nội; kể cả các nghiên cứu khu vực Châu Á. Tác giả nghiên cứu có kiến nghị cần tăng cường các nghiên cứu về văn hoá sức khoẻ cũng như tác động của văn hoá sức khoẻ đến sức khoẻ cộng đồng, từ đó xây dựng các chính sách nhằm phù hợp và gần gũi hơn cho cộng đồng. Tăng cường truyền thông, giáo dục sức khoẻ tại cộng đồng và cả trong các trường học để nâng cao kiến thức và các kỹ năng liên quan đến sức khoẻ cho cộng đồng.
Chúng ta biết rằng văn hoá sức khoẻ (Health Literacy) hay còn gọi là Năng lực hoặc Hiểu biết sức khoẻ. Khái niệm này xuất hiện từ những năm 1970 tại Hoa Kỳ liên quan đến giáo dục sức khoẻ và chủ đề này thật sự được quan tâm nhiều hơn từ những năm 1990.
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa “Văn hoá sức khoẻ là các kỹ năng nhận thức và kỹ năng xã hội, trong đó xác định các động lực và khả năng của cá nhân để tiếp cận, hiểu và sử dụng thông tin theo cách thúc đẩy và duy trì trạng thái sức khoẻ tốt”. Khái niệm này có liên quan đến năng lực của mỗi cá nhân có thể đáp ứng được nhu cầu phức tạp của sức khoẻ trong một xã hội hiện đại ngày nay. Văn hoá sức khoẻ ngày càng quan trọng trong y tế công cộng nói riêng và y tế nói chung, văn hoá sức khoẻ thấp đã được công nhận là một vấn đề toàn cầu trong thế kỷ 21.
Lâm Quyên