Rối loạn cương dương (RLCD) là một trong những rối loạn chức năng tình dục phổ biến nhất ở nam giới. Thống kê trên thế giới cho thấy, cứ 10 người đàn ông thì có 1 người có nguy cơ mắc RLCD. RLCD được cho là đang ảnh hưởng đến sức khỏe tình dục của khoảng 150 triệu đàn ông trên thế giới và theo dự đoán sẽ tăng lên trên 320 triệu vào năm 2025. Một tỷ lệ rối loạn cương dương ở nam giới trên 40 tuổi tùy theo vùng được nghiên cứu cho thấy: vùng Trung và Nam Mỹ có tỷ lệ RLCD khoảng 9%; vùng Đông Á tỷ lệ này khoảng 15% và cao nhất là Đông Nam Á có tỷ lệ RLCD khoảng 22%. Các nghiên cứu khác trên thế giới cũng cho thấy rằng tỷ lệ RLCD ở Mỹ và Châu Á có xu hướng tăng cao hơn so với các vùng khác trên thế giới.
Tại Việt Nam, Phạm Văn Trịnh và cộng sự (1997) đã thực hiện một nghiên cứu trên 764 nam giới bằng phương pháp điều tra phỏng vấn ghi nhận tỷ lệ chung RLCD là 15,7%, trong đó 10,8% ở nam giới từ 18 đến 30 tuổi, 44% ở nam giới từ 40 đến 45 tuổi và 57% ở nam giới trên 60 tuổi.
Tại Việt Nam hiện nay có ít nghiên cứu về tình hình dịch tễ học cũng như các yếu tố liên quan đến RLCD. BS. Lê Ngọc Phú – Khoa Y tế Công cộng – Đại học Y Dược Huế cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu “Tỷ lệ RLCD và các yếu tố liên quan ở nam giới đã lập gia đình từ 20-60 tuổi tại phường Hương Long, Tp. Huế năm 2015”.
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang; các điều tra viên dựa vào bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp điều tra thông tin của đối tượng nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống RLCD. Đối với bộ câu hỏi xác định tình trạng RLCD điều tra viên cung cấp phiếu điều tra và đối tượng nghiên cứu tự trả lời.
Nội dung nghiên cứu theo tác giả gồm: Mô tả tỷ lệ RLCD ở đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ các đối tượng có RLCD; tỷ lệ mức độ nặng của rối loạn cương. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến RLCD ở đối tượng nghiên cứu. Yếu tố cá nhân: tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tôn giáo, kinh tế. Yếu tố kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống RLCD.
Công cụ sàng lọc RLCD: Thang điểm IIEF-5 gồm 5 câu hỏi đánh giá 5 lĩnh vực trong đời sống tình dục nam giới sử dụng thang đo Likert từ 1-5 điểm cho mỗi câu hỏi. Tổng điểm dao động từ 1-25 điểm và chia thành 5 mức độ, 1-7 điểm: RLCD mức độ nặng; 8-11 điểm: RLCD mức độ trung bình; 12-16 điểm: RLCD mức độ trung bình – nhẹ; 17-21 điểm: RLCD mức độ nhẹ; 22-25 điểm: bình thường/không mắc RLCD. Xác định tỷ lệ RLCD và trong phân tích mối liên quan thì RLCD được chia làm 2 nhóm để so sánh: Có RLCD ≤ 21 điểm và không RLCD > 21 điểm.
Theo phân tích của BS. Lê Ngọc Phú, kết quả cho thấy tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 44,12 ± 9,32, tuổi thấp nhất là 24, tuổi cao nhất là 60. Độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 40-60 tuổi với tỷ lệ trên 2/3 đối tượng (67,6%). Trình độ học vấn chiếm tỷ lệ cao nhất là từ Trung học cơ sở trở xuống với khoảng 2/3 số đối tượng (66,4%) và thấp nhất là từ Cao đẳng – Đại học trở lên (9,1%).
Hơn một nửa các đối tượng (56,2%) có tôn giáo. Phần lớn nghề nghiệp chính của các đối tượng là lao động chân tay chiếm tỷ lệ 84,0%. Hộ nghèo/cận nghèo chỉ chiếm 4,2%, các hộ gia đình còn lại có mức kinh tế trung bình và trên trung bình chiếm 95,5%.
BS. Phú cũng báo cáo có 43,3% số đối tượng có kiến thức đạt về phòng chống RLCD và 56,7% có kiến thức chưa đạt. Có 99,8% số đối tượng có thái độ tích cực về phòng chống RLCD và 0,2% có thái độ chưa tích cực. Có 76,7% số đối tượng có thực hành đạt về phòng chống RLCD và 23,3% có thực hành chưa đạt. Tỷ lệ hiện mắc RLCD ở đối tượng nghiên cứu là 53,3%. Tỷ lệ các mức độ RLCD từ nặng, trung bình, trung bình – nhẹ đến mức độ nhẹ lần lượt là 1,8%, 0,4%, 6,7% và 44,4%.
Phân tích mối tương quan giữa tuổi và mức độ nặng của rối loạn cương; BS. Phú cho biết phân tích hồi quy đơn biến giữa tổng điểm IIEF-5 và tuổi của đối tượng cho thấy tuổi càng cao thì tổng điểm đánh giá mức độ rối loạn cương càng thấp, mức độ rối loạn cương càng nặng. Có mối liên quan giữa tuổi của đối tượng nghiên cứu và RLCD. Nhóm nam giới 40-60 tuổi có tỷ lệ RLCD (75,0%) cao hơn nhóm 20-39 tuổi (8,2%). Sự khác biệt tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Có mối liên quan giữa trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu và RLCD. Nhóm nam giới có trình độ học vấn từ Trung học cơ sở trở xuống có tỷ lệ RLCD (59,5%) cao hơn so với nhóm Trung học phổ thông (49,1%) và từ Cao đẳng lên Đại học trở lên (19,5%). Sự khác biệt tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Có mối liên quan giữa nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu và RLCD. Nhóm nam giới có nghề nghiệp là cán bộ viên chức có tỷ lệ RLCD (22,2%) thấp hơn so với nhóm lao động chân tay (55,0%) và nhóm ở nhà (81,5%). Sự khác biệt tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Có mối liên quan giữa kiến thức về phòng chống RLCD của đối tượng nghiên cứu và RLCD. Nhóm nam giới có kiến thức đạt có tỷ lệ RLCD (42,6%) thấp hơn so với nhóm nam giới có kiến thức chưa đạt (61,6%). Sự khác biệt tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Có mối liên quan giữa thực hành về phòng chống RLCD của đối tượng nghiên cứu và RLCD. Nhóm nam giới có thực hành đạt có tỷ lệ RLCD là 48,4% thấp hơn so với nhóm nam giới có thực hành chưa đạt (69,5%). Sự khác biệt tỷ lệ này có y nghĩa thống kê với p<0,05.
Đối với phân tích mô hình hồi quy logistics đa biến các yếu tố liên quan đến RLCD ở đối tượng nghiên cứu, trong 5 yếu tố tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kiến thức, thực hành có 3 yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ RLCD là tuổi, đối tượng nghiên cứu ở nhà và kiến thức về phòng chống RLCD (p<0,05).
Tác giả nghiên cứu cũng cho biết một nghiên cứu của Mr Safarinejad và cộng sự ở Iran năm 2003 cho thấy nhóm nam giới 60-69 tuổi có khả năng duy trì cương dương và thõa mãn sau khi giao hợp thấp hơn 6 lần so với nhóm nam giới 20-39 tuổi. Mức độ nặng của RLCD tăng lên 2,7 lần ở tuổi 60 và 7,5 lần ở tuổi so với tuổi 30.
BS. Lê Ngọc Phú có kiến nghị cho nghiên cứu là: (1) Nâng cao nhận thức của cộng đồng về ảnh hưởng quan trọng RLCD đối với chất lượng cuộc sống, thúc đẩy sự quan tâm tự nguyện của cộng đồng đối với RLCD; (2) Tăng cường triển khai cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản nam giới; (3) Kết hợp truyền thông các yếu tố nguy cơ của RLCD, giúp nam giới thực hiện lối sống lành mạnh, hạn chế các yếu tố nguy cơ.
Hữu Cao