Điều tiết là một đáp ứng thị giác của con mắt quan sát được khi nhìn gần. Một trong những chỉ số để đánh giá chức năng điều tiết của mắt là thuận năng điều tiết (Accommodative facility) là chỉ số đo tốc độ đáp ứng điều tiết của mắt, đánh giá khả năng thay đổi nhanh chóng, dễ dàng điều tiết của mắt, đơn vị tính là chu kỳ/phút (cpm).
Các tài liệu nghiên cứu về cận thị hiện nay đều khẳng định nhìn gần là một yếu tố quan trọng gây cận thị. Khi nhìn gần mắt sẽ phải điều tiết nhiều hơn. Trong điều kiện như vậy cận thị xuất hiện để giảm nhu cầu điều tiết của mắt. Có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu về sự thay đổi của thuận năng điều tiết trên mắt cận thị nhưng kết quả thu được rất khác nhau và là vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Burge là người đầu tiên đưa ra cách đo thuận năng điều tiết (TNĐT) bằng cách sử dụng thanh kính lật (flipper lens) vào năm 1979.
Có hai phương pháp đo TNĐT: Đo TNĐT nhìn xa có sử dụng thanh kính lật plano/-2.00; Đo TNĐT nhìn gần với thanh kính lật +/-1.00 và +/-2.00. Khi đo TNĐT nhìn gần mắt phải tăng gánh nặng điều tiết khi nhìn qua mặt kính (-) của thanh kính lật. Bởi vậy, đa số bệnh nhân đều thích nhìn qua mặt kính (+) và cảm thấy mắt dễ chịu khi nhìn qua mặt kính này vì được giảm bớt gánh nặng điều tiết. Thời gian trung bình để nhìn qua một mặt của thanh kính lật bình thường là < 4 giây.
Kết quả đo TNĐT nhìn gần 1 mắt ở mắt chính thị bình thường là 11 chu kỳ/phút. Kết quả đo TNĐT nhìn gần 2 mắt ở mắt chính thị bình thường là 8 chu kỳ/phút.
Một số yếu tố được cho là có liên quan đến TNĐT trên mắt cận thị như: tuổi, tuổi khởi phát cận thị, công suất cận thị, tiến triển của cận thị, thời gian nhìn gần.
Nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Hiền cùng cộng sự Bệnh viện Mắt Trung ương tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá TNĐT trên mắt cận thị”. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân bị cận thị đơn thuần ở cả 2 mắt, tuổi từ 6 – 39, công suất cận thị từ -0.50D trở lên, thị lực nhìn xa sau khi chỉnh kính đạt > 20/25. Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân cận thị kèm loạn thị, bệnh nhân cận thị kèm theo lác, bệnh nhân phối hợp kém hoặc tinh thần không ổn định, bệnh nhân mắc bệnh cấp tính, những bệnh mắc có tổn thương thực thể phối hợp.
Phương pháp tiến hành của nghiên cứu gồm các bước hỏi tiền sử sức khỏe, tiền sử xã hội, tiền sử chức năng, tiền sử bệnh mắt. Đánh giá thị lực xa không kính hoặc với kính đang đeo bằng bảng Snellen. Đo khúc xạ soi bóng đồng tử (liệt điều tiết bằng Atropin 0,5% hoặc Cyclogyl 1%). Thử kính cầu tối ưu đạt thị lực > 20/25. Giải thích cách đo, mục đích của việc đo cho bệnh nhân. Đo TNĐT bằng hai phương pháp: đo TNĐT nhìn xa và đo TNĐT nhìn gần và ghi lại kết quả là số chu kỳ trong 1 phút. Đo từng mắt: mắt phải, mắt trái; Đo 2 mắt; Đo thời gian nhìn qua mặt kính (+) và (-).
Theo báo cáo của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, có 80 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, tuổi trung bình là 14,8 + 4,7; bệnh nhân nhỏ nhất 6 tuổi và lớn nhất là 36 tuổi. Trong đó nhóm tuổi từ 10 – 19 chiếm tỷ lệ cao nhất (81,25%). Bệnh nhân tham gia nghiên cứu đa phần là học sinh, chiếm tỷ lệ nhiều nhất là học sinh trung học cơ sở (43,7%).
Nhóm khởi phát cận thị sớm trước tuổi 15 (77,5%), trong đó có tới 62,5% bệnh nhân khởi phát ở tuổi 8-12, nhóm cận thị khởi phát muộn sau 15 tuổi chiếm ít hơn (22,5%). Cận thị khởi phát sớm đa số khởi phát ở độ tuổi 6-15 còn gọi là cận thị học đường. Tuy nhiên tuổi khởi phát cận thị mang tính chủ quan, bởi có những bệnh nhân cận thị có thể xuất hiện sớm trước 15 tuổi nhưng do bệnh nhân không đi khám ngay nên không được phát hiện cận thị, thậm chí nhiều trường hợp đến khám rất muộn sau 15 tuổi được chẩn đoán cận thị nặng và nhược thị do không đeo kính. Đối tượng gặp chủ yếu là nhóm cận thị nhẹ và trung bình chiếm 93,1%, cận thị nặng trên -6.00D chỉ có 6,9%. Nhóm cận thị nặng gặp tỷ lệ thấp có thể do cận thị nặng thường kèm loạn thị hoặc có tổn thương thoái hóa võng mạc, thị lực thường kém không đạt 20/25 nên không đủ tiêu chuẩn để chọn vào nhóm nghiên cứu.
Kết quả về đặc điểm TNĐT nhìn xa trên mắt cận thị, TNĐT nhìn xa một mắt trung bình khi sử dụng thanh kính lật plano/-200 là 9,42 + 5,71 cpm. Khi tìm hiểu nghiên cứu của các tác giả nước ngoài thì hầu hết các báo cáo ít quan tâm đánh giá chỉ số TNĐT nhìn xa trên mắt cận thị, bởi khi nhìn xa mắt cận thị cũng như mắt chính thị sẽ không phải điều tiết.
Đối với TNĐT nhìn gần trên mắt cận thị, TNĐT nhìn gần với thanh kính lật +/-1.00 trên mắt cận thị: TNĐT nhìn gần 1 mắt trung bình với thanh kính lật +/-1.00 là 12,68 + 4,05 cpm thấp hơn TNĐT nhìn gần 2 mắt khi sử dụng thanh kính lật +/-1.00 là 13,34 + 3,15 cpm (p<0,001).
TNĐT nhìn gần với thanh kính lật +/-2.00 trên mắt cận thị: TNĐT nhìn gần 1 mắt trung bình với thanh kính lật +/-2.00 là 8,73 + 5,24 cpm, xấp xỉ TNĐT nhìn gần 2 mắt khi đo bằng thanh kính lật +/-2.00 là 8,68 + 4,87 cpm (p>0,05).
So sánh TNĐT nhìn gần khi sử dụng thanh kính lật +/-1.00 và +/-2.00: Khi đo TNĐT nhìn gần bằng thanh kính lật +/-2.00, kết quả nghiên cứu nhận thấy có 6 bệnh nhân không đo được TNĐT (TNĐT =0 cpm) vì bệnh nhân không thể cố gắng nhìn được qua mặt kính -2.00. Nhưng khi sử dụng thanh kính lật +/-1.00 chúng tôi có thể đo được TNĐT nhìn gần cho tất cả các bệnh nhân. Điều này là do khi đo TNĐT nhìn gần, mắt cần phải tăng gánh nặng điều tiết khi nhìn qua mặt kính (-) của thanh kính lật, bởi vì với mắt cận thị khi đeo kính cận để nhìn gần mắt sẽ phải cố gắng điều tiết thêm do vậy khi đồng thời phải nhìn qua mặt kính (-)mắt càng phải tăng điều tiết để nhìn rõ chi tiết vật ở gần. Đối với thanh kính lật +/-2.00 gánh nặng điều tiết đòi hỏi nhiều hơn khi nhìn qua mặt kính -2.00 (do chênh lệch đáp ứng điều tiết giữa hai mặt kính tối đa là 4 điop). Còn đối với thanh kính lật +/-1.00 gánh nặng điều tiết đòi hỏi ít hơn (do chênh lệch đáp ứng điều tiết giữa hai mặt kính tối đa là 2 điop). Đây là lý do vì sao tất cả các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về TNĐT nhìn gần đều sử dụng thanh kính lật +/-2.00 và cũng là lý do vì sao trên cùng một bệnh nhân nếu đo TNĐT nhìn gần với kính lật +/-1.00 và +/-2.00 thì kết quả TNĐT thu được khi đo bằng thanh kính lật +/-1.00 luôn cao hơn so với TNĐT thu được khi đo bằng thanh kính lật +/-2.00.
Tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Hiền cũng cho biết, thời gian nhìn rõ mặt kính (+) hoặc mặt kính (-) khi đo bằng thanh kính lật +/-2.00: Tất cả các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đều thích mặt kính (+) của thanh kính lật, do mặt kính này giúp bệnh nhân nhìn gần dễ chịu hơn vì giảm bớt được gánh nặng điều tiết cho mắt khi nhìn gần. Thời gian nhìn rõ mặt kính (+) (còn gọi là thời gian đáp ứng âm – negative response time) khi đo TNĐT thường ngắn hơn thời gian nhìn rõ mặt kính (-) (còn gọi là thời gian đáp ứng dương – positive response time). Kết quả nghiên cứu cho thấy: thời gian mắt nhìn rõ mặt kính (-) là 6,90 + 7,49 giây kéo dài hơn so với thời gian mắt nhìn rõ mặt kính (+) là 3,02 + 0,76 giây.
Đối với các yếu tố ảnh hưởng đến TNĐT trên mắt cận thị, tác giả nghiên cứu cho biết tuổi có liên quan đến TNĐT: tuổi càng cao thì TNĐT càng giảm. Mức độ cận thị có liên quan với TNĐT: TNĐT ở mắt cận thị nhẹ lớn hơn so với TNĐT ở mắt cận thị trung bình và nặng. Tiến triển của cận thị có tương quan nghịch biến với TNĐT nhìn gần 1 mắt: TNĐT nhìn gần càng thấp thì mức độ tiến triển cận thị càng nhanh. Thời gian nhìn gần có liên quan với TNĐT: thời gian nhìn gần càng kéo dài thì TNĐT càng giảm.
Mai Trang