[Đăng ngày: 27/07/2017]
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh lý hô hấp có tỷ lệ mắc và tử vong khá cao.

Tại Mỹ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 1 trong 3 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở người bệnh. Việt Nam tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 6,7%; đứng đầu trong 12 nước ở khu vực Đông Nam Á. Theo TS. Lê Khắc Bảo- Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh các xét nghiệm, nghiệm pháp thăm dò thông khí phổi, căng giãn phổi, sức cản đường thở rất có giá trị trong việc đánh giá toàn diện bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; đó là một trong ba thành phần chính đánh giá tiêu chí nặng của bệnh cùng với tình trạng lâm sàng và hạn chế lưu lượng thở ra.

Đo thể tích toàn thân (Whole body plethysmographie) là một phương pháp hiện đại, cho phép thăm dò chức năng hô hấp một cách toàn diện và chính xác cao. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc ứng dụng thăm dò chuyên sâu các thông số như thể tích cặn, sức cản đường thở, khuyếch tán phế nang mao mạch ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính còn chưa được áp dụng rộng rãi.

Từ tháng 3-9/2013, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thị Phương Nam cùng cộng sự Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng; Học viện Quân Y; Bệnh viện 103 đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Mối tương quan giữa các thông số chức năng hô hấp với mức độ nặng va kiểu hình của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”. Tác giả nghiên cứu cho biết có 117 đối tượng được chẩn đoán xác định mắc BPTNMT theo tiêu chuẩn GOLD 2013 với chỉ số Geansler sau test phục hồi phế quản dưới 70% tham gia nghiên cứu; các đối tượng nghiên cứu không có chống chỉ định thăm dò chức năng hô hấp, sau đợt bùng phát, được điều trị nội trú Bệnh viện Quân Y 103 và tự nguyện tham gia nghiên cứu.

Vật liệu nghiên cứu là máy đo thể tích toàn thân Care Fusion được kiểm định về tính chính xác, độ ổn định, độ sai số cho phép và được chuẩn định hàng ngày. Tất cả đối tượng nghiên cứu được đo thông khí phổi. Đối tượng nghiên cứu được nghỉ ngơi ít nhất 15 phút trước đo, không dùng các chất kích thích; thống nhất đo ở tư thế ngồi. Các đối tượng nghiên cứu được đo thông khí phổi, test phục hồi phế quản, thể tích phổi tĩnh, sức cản đường thở. Sau mỗi lần đo nghĩ 5 phút và thực hiện lại phép đo 3 lần. Kết quả được lấy giữa 02 lần đo tốt nhất, chênh nhau không quá 10%.

Theo tác giả Phạm Thị Phương Nam, đối tượng nghiên cứu nam giới là chủ yếu với tỷ lệ 97,4%; độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 65,7. Chỉ số khối cơ thể trung bình là 18,8. Theo mức độ nặng dựa vào GOLD 2013 phân bố tỷ lệ A,B,C,D thì nhóm D là nhóm có nhiều triệu chứng, nhiều nguy cơ gặp nhiều nhất với tỷ lệ 57,3%; điều này cũng tương tự một số nghiên cứu khác với lý do bệnh nhân BPTNMT thường nhập viện điều trị ở giai đoạn muộn. Về kiểu hình của bệnh , kiểu hình KTP ưu thế chiếm tỷ lệ cao nhất với 73,5%; đối tượng nghiên cứu ở đợt cấp thường xuyên gặp 48,7%. Tác giả nghiên cứu có nhận xét đối tượng nghiên cứu có sự sụt giảm các thông số thông khí phổi, trong đó thông số thông khí tự ý tối đa (Maximal Voluntary Ventilation- MVV) sụt giảm rõ nhất với VC là 84,6%; FEV1 là 51,8%; MVV là 40% (SLT). 

Tác giả nghiên cứu cho rằng để đánh giá khả năng thông khí của bệnh nhân BPTNMT ngoài phép đo FEV1 nên tiến hành đo giá trị thông khí tự ý tối đa (MVV), lý do là MVV vừa là chỉ số phản ảnh tình trạng toàn bộ hệ cơ học hô hấp, đồng thời vừa có kỹ thuật đo không quá phức tạp nhưng lại cung cấp thông tin thông khí rõ và sớm. Thường nếu MVV lớn hơn 60% SLT thì ít có nguy cơ biến chứng hô hấp sau phẫu thuật. Vì vậy, trong trường hợp điều trị bằng giảm thể tích phổi cần tiến hành thăm dò thông khí tự ý tối đa để tiên lượng bệnh và lựa chọn kỹ thuật giảm thể tích phổi như đặt van hay phẫu thuật nội soi hay mở ngực, qua đó hạn chế được tối đa nguy cơ biến chứng hô hấp sau phẫu thuật hoặc giúp tiên lượng nguy cơ của biến chứng.

Tác giả nghiên cứu cũng nhận xét ở bệnh nhân BPTNMT, sự thay đổi đầu tiên về các thể tích phổi là tăng thể tích cặn (RV); khi bệnh nhân nặng hơn thì RV càng tăng và làm giảm dung tích sống; FRC và TLC cũng tăng lên. Những trường hợp có tổn thương khí phế thủng (thể tích phổi cuối thì hít vào) thường có tương quan với RV. Tăng sức cản đường thở là dấu hiệu sớm trong chẩn đoán tắc nghẽn đường thở ở bệnh nhân, do bệnh nhân BPTNMT sức cản những đường thở đường kính nhỏ hơn 2mm chiếm tới hơn 50% sức cản phổi chung, trong khi ở người khoẻ mạnh chỉ chiếm 25%; tắc nghẽn đường thở nhỏ chính là giai đoạn sớm của BPTNMT; vì vậy việc thăm dò sức cản đường thở là thông số có độ nhạy cao và khách quan trong chẩn đoán BPTNMT.

Tác giả nghiên cứu kết luận ở bệnh nhân BPTNMT có sự giảm giá trị các thông số FEV1, MVV. Trong đó, MVV giảm rõ nhất; các thông số thăm dò căng giản phổi tăng (RV,TLC) và sức cản của đường thở tăng (Raw). Sự rối loạn này có tương quan với mức độ nặng của bệnh và kiểu hình bệnh phổi tắc nghẹn mạn tính. Thông số FEV1, MVV, RV/TLC có mối tương quan nghịch khá chặt chẽ với mức độ nặng của bệnh. Khi thông số MVV < 35% SLT; RV/TLC > 0,6 và Raw > 500% SLT có giá trị tiên lượng bệnh nặng.

Trần Mai
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 115

Số lượt truy cập: 9359359

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang