[Đăng ngày: 25/07/2017]
Hô hấp là một hoạt động cơ bản đảm bảo chức năng sống của cơ thể.

Đối với chấn thương tủy sống, bệnh nhân có biến chứng suy hô hấp là nguyên nhân phổ biến gây tử vong cho nạn nhân. Các biến chứng về hô hấp phụ thuộc vào vị trí tổn thương tủy sống, trong đó tổn thương tại vùng cổ gây ảnh hưởng nhiều nhất.

Theo các chuyên gia về hô hấp, các phương pháp thăm dò chức năng hô hấp, đo chức năng thông khí phổi (hay còn gọi là hô hấp ký) là phương pháp có giá trị quan trọng; phương pháp đo chức năng thông khí phổi có nhiều ưu điểm như đơn giản, máy móc không đắt tiền, kết quả đáng tin cậy. Từ kết quả đo chức năng thông khí phổi, bác sĩ chọn lựa các kỹ thuật phục hồi chức năng; vật lý trị liệu thích hợp và hiệu quả cho người bệnh.

Từ tháng 9/2011 đến tháng 4/2012, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Kim Liên, Ngô Xuân Trường cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu tình trạng rối loạn thông khí phổi ở bệnh nhân chấn thương tủy sống có liệt tủy”. Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tình trạng và mức độ rối loạn thông khí phổi theo vị trí, mức độ tổn thương tủy sống ở bệnh nhân chấn thương cột sống có liệt tủy.

Tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Kim Liên báo cáo có 35 bệnh nhân chấn thương cột sống có liệt tủy từ mức D12 trở lên đang được điều trị tại Trung tâm Phục hồi Chức năng- Bệnh viện Bạch Mai tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân tham gia nghiên cứu bao gồm cả điều trị bảo tồn và điều trị phẫu thuật; bệnh nhân đã ngồi được để thực hiện đo chức năng hô hấp ở tư thế ngồi. Tiêu chuẩn loại trừ đối với các trường hợp tổn thương tủy sống do các nguyên nhân khác, bệnh nhân còn trong giai đoạn choáng tủy, có tổn thương phối hợp chấn thương sọ não; nghiện ma túy, nghiện rượu, bệnh lý tâm thần có giảm hoặc mất tri giác; có nhiễm khuẩn hô hấp cấp hoặc có tiền sử bị liệt hô hấp mạn tính trước khi bị chấn thương cột sống, bị gãy xương đòn, xương sườn. Các đối tượng nghiên cứu được khám lâm sàng; đo chức năng thông khí phổi bằng máy đo dung tích phổi SPM 300 Cardiotouch 3000 ở tư thế ngồi.

Báo cáo của tác giả Nguyễn Thị Kim Liên cho thấy trong 35 đối tượng nghiên cứu; độ tuổi 18-60 chiếm 91,4%; bệnh nhân nam chiếm 88,6%; nguyên nhân dẫn đến tổn thương tủy sống chủ yếu tai nạn giao thông gần một nửa; tai nạn lao động chiếm 17%; còn lại là tai nạn sinh hoạt. Về vị trí tổn thương, có 02 bệnh nhân nhóm I; 19 bệnh nhân nhóm II; 14 bệnh nhân nhóm III. Mức độ tổn thương tủy sống theo ASIA: mức A có 19 bệnh nhân; mức B có 02 bệnh nhân; mức C có 08 bệnh nhân; mức D có 06 bệnh nhân; không có bệnh nhân ở mức E. Có 21/35 bệnh nhân bị liệt cơ hoàn toàn (60%); liệt cơ không hoàn toàn có 14/35 bệnh nhân (40%).

Tác giả nghiên cứu Kim Liên phân tích, có 02 bệnh nhân tổn thương tủy cổ từ C4 trở lên. Thông thường tổn thương tủy cổ cao từ C4 trở lên thường gây ra tử vong cho bệnh nhân ngay sau tai nạn hoặc trên đường vận chuyển do liệt cơ hô hấp; do vậy nhóm bệnh nhân ít gặp ở Trung tâm Phục hồi Chức năng. Hai trường hợp đối tượng nghiên cứu phải được hỗ trợ hô hấp trong quá trình điều trị tại khoa cho đến khi tình trạng bệnh nhân ổn định mới có thể tập luyện, đo chức năng hô hấp. Tác giả nghiên cứu nhận xét cột sống dễ bị tổn thương ở những vị trí di động, đặc biệt khi vùng đó sát ngay với phần kém di động. Ở cổ, cột sống cổ C5, C6, C7 là hay tổn thương nhất vì đây là đoạn di động ngay trên cột sống ngực được cố định vững chắc bởi khung xương sườn. Khi chấn thương cột sống, hiếm khi gây tổn thương tủy cắt ngang mà tổn thương thường lan dọc lên một vài khoanh tủy so với vị trí nặng nhất; mỗi đốt tủy lại cao hơn đốt tủy cùng tên; như vậy mức tủy C5,C6 là hay bị tổn thương nhiều nhất. Trong nghiên cứu, kết quả cho thấy đoạn tủy cổ C5,C6 chiếm đến 68,42% trong số những bệnh nhân tổn thương tủy cổ. tương tự như vậy, đốt tủy D11,D12 tuy không tương ứng với cột sống lưng D11, D12; là đoạn chuyển tiếp giữa vùng cột sống lưng cố định và đoạn cột sống thắt lưng di động L1, L2 nhưng do đặc điểm vùng tổn thương thường lan dọc lên một vài khoanh tủy nên lại thường là mức tủy tổn thương hay gặp nhất. Trong nghiên cứu, vị trí tổn thương đoạn tủy D11, D12 chiếm tỷ lệ đến 60% trong số bệnh nhân tổn thương tủy lưng.

Tác giả nghiên cứu cũng cho rằng, đốt tủy cổ cao, C4 trở lên chi phối cho cơ hô hấp của động tác hít vào mà quan trọng nhất là cơ hoành. Đốt tủy cổ thấp và ngực cao, C5-D6 chi phối các cơ hô hấp cho động tác hít vào gắng sức gồm cơ liên sườn ngoài và các cơ hô hấp phụ như cơ ngực lớn, cơ lưng rộng, cơ răng cưa…Còn các đốt tủy ngực thấp (D7-D12) chi phối cho động tác thở ra qua sự co các cơ bụng và cơ liên sườn trong ép các tạng trong bụng và cơ hoành lên trên; trong đó vai trò chính là của các cơ bụng. Khi đo chỉ số FVC, FEV 1 bệnh nhân phải thực hiện các động tác hít vào và thở ra gắng sức nên kết quả đo phụ thuộc vào cả các cơ hít vào và cơ thở ra. Khi tổn thương tủy sống, các cơ này bị liệt hoặc yếu khiến cho động tác hít vào và thở ra gắng sức bị hạn chế nên FVC và FEV1 sẽ bị giảm. Tuy nhiên, do cả hai cùng giảm nên chỉ số FEV1/FVC vẫn bình thường, trên 70%; FVC giảm nên bệnh nhân liệt tủy thường không có hội chứng rối loạn thông khí tắc nghẽn mà có hội chứng rối loạn thông khí hạn chế. 

Một nhận xét của kết quả nghiên cứu là chức năng hô hấp của bệnh nhân liệt tủy giảm dần khi vị trí tổn thương tủy càng cao. Khi tổn thương tủy sống đường dẫn truyền thần kinh tại vị trí đó cũng bị gián đoạn, nên chức năng của các đốt tủy bên dưới mức tổn thương cũng bị ảnh hưởng, cho nên vị trí tổn thương tủy càng cao thì mức độ ảnh hưởng đến số lượng cơ tham gia hô hấp càng nhiều, dẫn đến chức năng hô hấp càng giảm. Tác giả Kim Liên cũng nhận xét, vị trí tổn thương tủy có ý nghĩa quyết định đến chức năng hô hấp của bệnh nhân bị liệt tủy, đồng thời cần có thái độ chú ý như nhau về phương diện hô hấp đối với những bệnh nhân liệt tủy ở bất kỳ mức độ nào.

Anh Huy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 115

Số lượt truy cập: 9359359

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang