Tại Hội nghị khoa học Hội hành nghề y tế tư nhân Khánh Hòa – TP Hồ Chí Minh được tổ chức vào tháng 10/2016 tại TP Nha Trang, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Minh Hùng cùng cộng sự báo cáo đề tài “Tỉ lệ thiếu Glucose-6-Phosphate Dehydrogenase (G6PD) và các dạng biến thể G6PD ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản quốc tế Sài Gòn”.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ thiếu G6PD ở quần thể trẻ sơ sinh tại Bệnh viện là 1.37%. Phát hiện 5 dạng biến thể G6PD là G6PD Viangchan, Mahidol, Union, Kaiping và Canton. Dạng đột biến hay gặp nhất là Viangchan (12/21 ca) và là dạng biến thể chủ yếu trong nghiên cứu trước đây về G6PD tại Việt Nam.
Glucose-6-Phosphate Dehydrogenase (G6PD) là enzyme xúc tác phản ứng đầu tiên trong chu trình Hexose Monophosphate và thiếu G6PD là một trong những bất thường về di truyền hồng cầu hay gặp nhất với khoảng 400 triệu người mắc trên toàn thế giới.
Bệnh lý do thiếu G6PD hay gặp nhất là thiếu máu huyết tán và vàng da sơ sinh kéo dài. Tùy theo mức độ thiếu G6PD mà Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1989) phân loại thiếu G6PD thành các mức như sau:
Mức 1: thiếu máu huyết tán mãn tính, hồng cầu thay đổi hình dạng và hiếm gặp trên thế giới.
Mức 2: mức độ bệnh nghiêm trọng, hoạt tính enzyme ít hơn 10% so với bình thường, kết hợp với thiếu máu huyết tán cấp tính.
Mức 3: mức độ bệnh trung bình, hoạt tính enzyme từ 10% - 60% so với bình thường, chỉ xảy ra thiếu máu huyết tán khi tiếp xúc với các tác nhân oxi hóa.
Mức 4: thường không biểu hiện triệu chứng, hoạt tính enzyme gần như người bình thường.
Mức 5: không tán huyết, hoạt tính enzyme lớn hơn 110% so với bình thường, bệnh hiếm gặp trên thế giới. Về loại đột biến này hiện nay chưa được báo cáo.
Gen quy định tổng hợp enzyme G6PD nằm trên nhánh dài vùng 2, băng 8 của nhiễm sắc thể X (Xq28), gồm 13 exon trong đó exon 1 không mã hóa tổng hợp acid amin. Hầu hết các trường hợp thiếu G6PD là do sự thay đổi của một acid amin gây ra bởi một đột biến trên gen G6PD và cho đến nay hơn 140 biến thể G6PD đã được phát hiện và công bố. Đột biến trên gen G6PD có thể làm thay đổi hoạt tính enzyme từ 0 – 90% do đó việc tìm ra vị trí đột biến gen ngoài ý nghĩa về mặt khẳng định chẩn đoán mà còn có ý nghĩa trong tư vấn mức độ thiếu men và các thuốc, hóa chất, thực phẩm cần tránh cho bố mẹ trẻ bị mắc.
Theo tác giả nghiên cứu Nguyễn Minh Hùng, nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4/2014 đến tháng 4/2015, có 2917 trẻ sơ sinh được lấy máu gót chân vào giấy thấm để làm xét nghiệm sàng lọc thiếu G6PD. Sau khi thu thập, mẫu giấy thấm máu được để khô tự nhiên rồi chuyển về đơn vị Di truyền của Bệnh viện để làm xét nghiệm sàng lọc thiếu G6PD. Trường hợp thiếu men G6PD đã được khẳng định lần 2 thì mẫu niêm mạc má của trẻ sẽ được thu thập để phân tích dạng đột biến gen G6PD. Nghiên cứu này được ủng hộ bởi hội đồng Y đức của Bệnh viện và được sự đồng ý của gia đình bệnh nhân.
Hoạt độ G6PD được đo bằng phương pháp fluorescene spot test, sử dụng bộ kít thương mại OSMMR2000-D G6PD assay. Enzym G6PD xúc tác phản ứng giữa cơ chất G6P và NADP+ tạo thành NADPH và chất này sẽ phản ứng với chất lên màu là muối tetrazolium. Mật độ quang của màu được đo ở bước sóng 550 nm và nó phản ánh nồng độ G6PD ở trong mẫu.
Phát hiện đột biến gen gây thiếu G6PD bằng phương pháp Single Nucleotide Polymorphism (SNP).
Theo tác giả nghiên cứu phân tích, trong tổng số 2917 trẻ sơ sinh tham gia trong nghiên cứu, có 1585 bé nam (54,34%), 1332 bé nữ (45,66%). Có 40 bé được phát hiện thiếu men G6PD (38 nam và 2 nữ) sau khi được thực hiện kỹ thuật sàng lọc 2 lần. Xét nghiệm lần 1 lấy máu lúc 48 – 72 giờ sau sinh và lần 2 sau sinh một tháng. Tỷ lệ thiếu G6PD của các bé sơ sinh là 1,37% (40/2917) trong đó tỷ lệ thiếu đối với trẻ nam là 2,39% (38/1585) và trẻ nữ là 0,16% (2/1332). Do gen G6PD nằm trên nhánh dài, vùng 2, băng 8 của nhiễm sắc thể X. Đây là bệnh di truyền gen lặn liên kết nhiễm sắc thể giới tính X không có alen tương ứng trên Y nên gặp nhiều ở nam hơn ở nữ, ở giới nữ chỉ khi đột biến xảy ra ở cả 2 alen trên 2 nhiễm sắc thể X thì tình trạng thiếu G6PD mới biểu hiện, còn ở nam giới chỉ cần có đột biến là có thể biểu hiện bệnh, điều này giúp giải thích tỷ lệ thiếu G6PD ở nam cao hơn ở nữ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 18 ca với 5 thể loại đột biến. Viangchan, Mahidol, Union, Kaiping và Canton. Đối với G6PD Viangchan gặp 12/18 trường hợp, chiếm 66,7%. G6PD Viangchan được phát hiện lần đầu tiên ở người Lào định cư tại Canada năm 1988 sau đó là người Lào ở Hawaii năm 1993. Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 1989), G6PD Viangchan nằm trong phân lớp 2 với hoạt tính enzyme hồng cầu chỉ bằng 1 – 10% so với người bình thường. G6PD Viangchan là biến thể phổ biến ở Campuchia, Thái Lan. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây của Matsuoka và Nguyen TH thì biến thể G6PD Viangchan chiếm đa số.
Đối với G6PD Kaiping trong nghiên cứu chỉ có 1/18 ca; tuy nhiên biến thể này là loại hay gặp nhất ở Trung Quốc. Đối với G6PD Union theo tác giả nghiên cứu hay gặp ở nhóm người Kinh tại tỉnh Lâm Đồng 3/19 ca; nhưng một số nghiên cứu phân tích ở người Khơ Mú tỉnh Điện Biên, tỷ lệ này gặp 7/7 ca nghiên cứu.
Trần Hưng