[Đăng ngày: 01/11/2017]
Sỏi tiết niệu là bệnh lý hay gặp tại Việt Nam. Tại các bệnh viện như Việt Đức, bệnh viện Quân Y 103, bệnh viện Bình Dân TP. Hồ Chí Minh; số bệnh nhân điều trị sỏi tiết niệu chiếm 40-60% số bệnh nhân điều trị tại khoa tiết niệu.

Theo các chuyên gia thận niệu, bản thân sỏi tiết niệu không gây tổn hại trực tiếp đến chức năng thận nhưng những biến chứng của sỏi gây ra nếu không được phát hiện xử trí kịp thời như viêm thận bể thận cấp, viêm thận bể thận mạn, thận ứ nước, thận ứ mủ…theo thời gian sẽ dẫn đến hậu quả suy thận mạn, cuối cùng là bệnh thận giai đoạn cuối, đòi hỏi phải điều trị thay thận.

Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra có khoảng 12% người có nguy cơ cao bị sỏi tiết niệu. Có khoảng 50% số người có tiền sử sỏi tiết niệu sẽ bị tái phát trong vòng 10 năm sau khi can thiệp lấy sỏi. Tỷ lệ suy thận mạn ở bệnh nhân sỏi thận – tiết niệu là từ 31-44%; có khoảng 1,2% số bệnh nhân tử vong do bệnh thận giai đoạn cuối.

Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Đặng Thị Việt Hà cùng cộng sự Trường đại học Y Hà Nội, khoa Thận tiết niệu bệnh viện Bạch Mai thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang, báo cáo đề tài “Nhận xét tình trạng sỏi tiết niệu tại khoa thận tiết niệu bệnh viện Bạch Mai”.

BS Việt Hà cho biết, đối tượng nghiên cứu là 80 bệnh nhân được chẩn đoán xác định sỏi tiết niệu dựa vào lâm sàng và các chẩn đoán hình ảnh, điều trị nội trú tại bệnh viện Bạch Mai, tuổi ≥ 16. Những bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng như sỏi tiết niệu nhưng trên siêu âm, các biện pháp chẩn đoán hình ảnh khác không thấy sỏi không mời tham gia nghiên cứu. Về tăng huyết áp phân độ theo JNC7, phân loại thiếu máu theo Hội thận học quốc tế 2002. Phân loại giai đoạn bệnh thận mạn theo Hội thận học Hoa Kỳ 2002. Phân độ giãn đài bể thận trên siêu âm theo Society of Fetal Ultrasoand (SFU).

BS Việt Hà phân tích báo cáo, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 55,1; người nhỏ nhất 22 tuổi, lớn nhất 83 tuổi. Số bệnh nhân được phát hiện sỏi tiết niệu từ trước chiếm tỷ lệ 65,4%; bệnh nhân mới phát hiện sỏi lần đầu chiếm tỷ lệ 34,2%. Dấu hiệu đau hông lưng, cảm giác tức nặng liên tục vùng hố thận thường là biểu hiện của thận ứ nước, ứ mủ hoặc viêm thận bể thận mạn. BS Hà giải thích, đau dữ dội gây ra là do đài bể thận bị giãn và bao thận bị căng đột ngột do tắc nghẽn cấp tính. Có gần 80% đối tượng nghiên cứu có dấu hiệu này. Đái buốt, đái rắt là triệu chứng có thể gặp khi có sỏi gây biến chứng nhiễm khuẩn tiết niệu chiếm tỷ lệ 40,2%. Đái máu chiếm tỷ lệ 24,4%. Các dấu hiệu khác gặp khi có suy thận là thiếu máu, phù, tăng huyết áp đều có tỷ lệ cao, cụ thể thiếu máu 69,5%; tăng huyết áp 40,8%, phù hợp với tỷ lệ biến chứng bệnh thận mạn có suy thận là 70,7%. Tăng huyết áp là bệnh thường gặp ở các bệnh nhân sỏi tiết niệu. Thiếu máu trong sỏi tiết niệu là do thận đã bị suy giảm chức năng, đây là triệu chứng hay gặp. BS Hà cho biết số bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu 69,5%; chủ yếu là nhẹ và vừa (31,7% và 19,5%). Số bệnh nhân có mức lọc cầu thận ≤ 60 ml/phút chiếm tỷ lệ 70,7%; trong đó đa phần số bệnh nhân có chức năng thận suy giảm nặng với sức lọc cầu thận < 15 ml/phút. Tác giả nghiên cứu lưu ý có hậu quả tất yếu khi mắc sỏi tiết niệu mà không phát hiện điều trị kịp thời là suy giảm chức năng thận nghiêm trọng theo thời gian.

BS Hà cho rằng, tình trạng pH nước tiểu là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong cơ chế phát sinh và hình thành các loại sỏi tiết niệu. Sự thay đổi pH nước tiểu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thuốc đang sử dụng, chế độ ăn, tình trạng nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Nếu pH nước tiểu kiềm tính hình thành các loại sỏi canxi phosphat, canxi carbonat, magie phosphat. Còn bệnh nhân có pH nước tiểu thấp hình thành sỏi axit uric, cystein, canxi oxalat. Trong nghiên cứu, tỷ lệ tăng axit uric là 67,9%; tăng canxi máu gặp 7,2% bệnh nhân. Tỷ lệ bệnh nhân có pH nước tiểu kiềm tính chiếm 39% nên tỷ lệ sỏi cản quang ở đối tượng nghiên cứu cao.

Kết quả cho thấy, tỷ lệ sỏi thận chiếm đến 75,6%; trong đó sỏi thận 1 bên chiếm 51,2%; sỏi thận 2 bên chiếm 24,4%; còn lại là sỏi niệu quản kết hợp sỏi thận 15,9%. Tỷ lệ sỏi niệu quản đơn thuần là 6,1%; chỉ có 2,4% số bệnh nhân có sỏi bàng quang. Nguyên nhân có sự khác nhau ở một số nghiên cứu, BS Hà giải thích do đối tượng nghiên cứu đa phần đã có biến chứng, diễn tiến bệnh âm thầm trong thời gian dài mới được phát hiện nên thường gặp sỏi 1 vị trí ít gây triệu chứng. Về tình trạng giãn đài bể thận gặp 59,3%; chủ yếu là giãn độ I (38,3%); độ 3 gặp 8,7%.

Báo cáo nghiên cứu cho thấy, số bệnh nhân có biến chứng do sỏi tiết niệu chiếm tỷ lệ 96,4%; các biến chứng hay gặp là suy thận mạn tỷ lệ đến gần 60%. Tác giả nghiên cứu lưu ý việc chẩn đoán sỏi tiết niệu kịp thời là rất quan trọng để tránh các biến chứng mà nặng nhất là suy thận mạn.

Trong nghiên cứu, tỷ lệ biến chứng thận ứ nước là 22%; thận ứ mủ là 7,3%. Sỏi tiết niệu gây ảnh hưởng đáng kể đến hình thái thận, là nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy thận. Nhiễm khuẩn tiết niệu thấp, viêm thận bể thận cấp, viêm thận bể thận mạn là các biến chứng biểu hiện sự nhiễm khuẩn đường tiết niệu, có thể sỏi tiết niệu gây ra các biến chứng trên nhưng ngược lại nhiễm khuẩn tiết niệu cũng là một nguyên nhân hình thành sỏi tiết niệu.Viêm thận bể thận mạn sẽ gây hủy hoại nhu mô thận, cuối cùng là suy thận mạn giai đoạn cuối đòi hỏi phải thay thận.

BS Hà lưu ý, sỏi tiết niệu thường tiến triển âm thầm rất ít triệu chứng, theo thời gian sỏi gây tổn thương dần dần cấu trúc thận làm suy giảm nghiêm trọng chức năng thận. Sỏi niệu quản có xu hướng gây ra các biến chứng cấp tính và hủy hoại chức năng thận nhanh hơn sỏi thận. Sự suy giảm chức năng ở bệnh nhân sỏi tiết niệu do tình trạng tắc nghẽn kéo dài gây ứ nước, ứ mủ bể thận, chỉ sau 6 tuần nhu mô thận không còn hồi phục được nên dẫn đến suy thận. Những bệnh nhân có sỏi thận ở cả 2 bên thì chức năng thận suy giảm nhiều hơn so với những đối tượng khác. 
Anh Huy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 204

Số lượt truy cập: 9290817

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang