Viêm thượng thanh môn cấp ở người lớn là một trong những cấp cứu tai mũi họng, tỷ lệ 0,5-1%. Bệnh có thể tử vong do gây chèn ép đường thở cấp tính.
Theo các chuyên gia tai mũi họng, chẩn đoán viêm thượng thanh môn dựa vào lâm sàng, sốt cao nếu do nguyên nhân nhiễm trùng, nếu không có nhiễm trùng có thể sốt nhẹ hoặc không sốt; người bệnh chủ yếu đau họng và nuốt đau. Các triệu chứng khác kèm như tăng tiết đờm dãi, thở rít, tắc nghẽn đường hô hấp. Khoảng 50% bệnh nhân có gọng ngậm hột thị; ho ít khi có. Bác sĩ khám hạ họng thanh quản thấy phù nề vùng sụn nắp, nẹp phễu thanh nhiệt và sụn phễu. Sụn nắp viêm nề tạo hình ảnh “mõm cá mè”, có thể có viêm loét hay viêm mủ thanh thiệt. Có thể gặp áp xe thanh thiệt. Có trường hợp phù nề băng thanh thất. Xét nghiệm máu cho thấy bạch cầu đa nnhân trung tính tăng cao, tăng protein C phản ứng. Trên phim Xquang cổ nghiêng thấy hình ảnh dấu ấn “ngón tay”. Chụp Xquang khi người bệnh không có tình trạng khó thở cấp tính, có các phương tiện cấp cứu tại phòng chụp.

Các bác sĩ tai mũi họng cho biết, đa phần dây thanh và khí quản bình thường, một ít trường hợp tổn thương viêm lan tới cả thanh môn và hạ thanh môn, tạo nên hình phễu trên phim Xquang thẳng. Thực hiện siêu âm thấy viêm phù nề thanh thiệt cấp tính, có hình ảnh giống chữ “P” khi siêu âm qua màng giáp móng. Nguyên tắc điều trị viêm thượng thanh môn là kiểm soát đường thở, có thể mổ khí quản hoặc đặt nội khí quản khi bệnh nhân có tình trạng khó thở từ độ 2, sau đó tuỳ nguyên nhân điều trị nội khoa hoặc ngoại khoa.
Về diễn biến viêm thượng thanh môn cấp tiến triển đi theo 2 hướng, (1) tiến triển nhanh tới tắc nghẽn đường thở gây tử vong nếu không xử trí can thiệp kiểm soát đường thở, (2) tiến triển nhẹ dần đi, nếu không có tắc nghẽn đường thở các triệu chứng sẽ hết dần sau vài ngày.
Từ năm 1990 đến năm 2015, tác giả nghiên cứu Phạm Thị Bích Đào cùng cộng sự Bộ môn Tai Mũi Họng- Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu hồi cứu, mô tả từng ca, báo cáo đề tài “Đặc điểm nhân khẩu học, biểu hiện lâm sàng và kết quả điều trị viêm thượng thanh môn cấp ở người lớn”. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân trên 18 tuổi, được chẩn đoán viêm thượng thanh môn cấp; có 288 bệnh nhân đủ điều kiện được mời tham gia nghiên cứu. Tỷ lệ nam/nữ là 6,5/1; tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 30; 89% đối tượng nghiên cứu đến bệnh viện ở ngày thứ 2 của bệnh.
BS. Phạm Thị Bích Đào phân tích, yếu tố gây bệnh bên cạnh sự viêm nhiễm có liên quan việc uống rượu bia là thuận lợi cho bệnh khởi phát. Độ tuổi 50 đây là lứa tuổi bị tác động từ nhiều yếu tố liên quan dị ứng thức ăn, đồ uống gây bệnh viêm thượng thanh môn cấp. Thường ở ngày thứ 2 của bệnh, các triệu chứng nuốt đau, nuốt vướng tăng lên đột ngột; do vậy người bệnh đến bệnh viện nhiều hơn; đối với những bệnh nhân đến ngay ngày đầu là do có khó thở, can thiệp phải đặt nội khí quản, mở khí quản. Có chuyên gia tai mũi họng cho rằng đối với những bệnh nhân đến ngay ngày đầu do khó thở cần thực hiện tiêm corticoid, khí dung adrenaline và thở oxy cao áp là hiệu quả, không cần phải đặt nội khí quản hoặc mở khí quản.
BS. Đào cho biết, triệu chứng cơ năng của viêm thượng thanh môn cấp hay gặp là nuốt đau (92%); đau họng (84%); ho (69%). Đây là 3 triệu chứng gợi ý cho bệnh viêm thượng thanh môn cấp. Các triệu chứng này dễ nhầm với viêm họng, viêm amidan cấp do vậy việc chẩn đoán bệnh có khi chậm trễ đi. Ngoài ra có thể có triệu chứng tăng tiết nước bọt, thở rít, nôn, giọng ngậm hạt thị. Bệnh nhân có thể có nhiệt độ 37,5 độ C, đây là nguyên nhân do vi khuẩn; người bệnh khó thở, mạch trên 100 lần/ phút; thở nhanh. Thăm khám bệnh nhân thấy niêm mạc họng đỏ, phù nề sụn nắp thanh nhiệt, tổ chức thượng thanh môn phù nề, thở rít ở thì hít vào. BS.Đào lưu ý, đây là những dấu hiệu khẳng định người bệnh bị viêm thượng thanh môn cấp để quyết định biện pháp điều trị.
BS.Đào nhận xét, bệnh viêm thượng thanh môn cấp có kèm theo bệnh đái tháo đường (47%); viêm nhiễm vùng tiểu khung (17%), phối hợp cả hai bệnh đó là 10%. Có 79% đối tượng nghiên cứu phải hỗ trợ hô hấp bằng thở oxy cao áp; 12% đặt nội khí quản và có 9% mở khí quản trong 24 giờ đầu.
Về kháng sinh, tác giả nghiên cứu cho biết sử dụng kháng sinh đơn thuần; Amoxicillin- Clavulanate 12,5%; kháng sinh cộng thêm corticoid tiêm 67,8%; sử dụng corticoid tiêm đơn thuần 17,2%; sử dụng corticoid tiêm cộng với khí dung adrenalin 2,5%. Các phác đồ trên, phác đồ sử dụng kháng sinh Amoxicillin- Clavulanate cộng với corticoid tiêm được sử dụng nhiều nhất do phần lớn người bệnh đều có tình trạng nhiễm trùng và phù nề cấp do dị ứng.
Hữu Cao