[Đăng ngày: 03/01/2019]
Tìm hiểu những nguy cơ trong 3 ngày đầu nhập viện ở những người > 60 tuổi có làm nặng bệnh lên và góp phần vào hậu quả của đột quỵ thiếu máu não cục bộ khi ra viện và sau 6 tháng như thế nào, từ năm 2014 đến năm 2017, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Huy Ngọc cùng cộng sự bệnh viện Đa khoa Phú Thọ thực hiện nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc báo cáo đề tài “Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ trong ba ngày đầu nhập viện ở người cao tuổi đột quỵ thiếu máu não cục bộ”.

Đối tượng nghiên cứu gồm 308 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, bị nhồi máu não cấp được điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ từ (2014 đến 2017). 

Tiêu chuẩn lựa chọn: các bệnh nhân nghiên cứu được chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não cục bộ theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (1989). Lâm sàng, bệnh xảy ra đột ngột với tổn thương thần kinh khu trú tồn tại trên 24 giờ. Phim Ctscan hoặc cộng hưởng từ sọ não (MRI) có hình ảnh giảm tỷ trọng mới tương ứng với lâm sàng. 

Bác sĩ Nguyễn Huy Ngọc phân tích, báo cáo, một số yếu tố dự báo  tăng nặng bệnh và tử vong trong ba ngày đầu nhập viện theo thống kê thấy: phải thở oxy hỗ trợ 69,2%, điểm Glasgow (<13 điểm 31,2%, <8 điểm 5,2%, 8-12 điểm 26,0%), tỷ lệ bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ là (2 yếu tố 28,3%, 3 yếu tố 17,9%). Tác giả Bonnaud nhận thấy bệnh nhân có yếu tố liên quan rõ dẫn đến tử vong là tình trạng hôn mê khi vào viện và tuổi cao; Vitanen M và cộng sự đã nghiên cứu mối liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ chính và tử vong ở những bệnh sau đột quỵ 5 năm đã chỉ ra rằng những bệnh nhân sau đột quỵ nếu có 2 yếu tố nguy cơ là tăng huyết áp và bệnh tim mạch thì cơ hội sống sót sau 5 năm chỉ là 25%, nếu họ chỉ có 1 trong 2 yếu tố nguy cơ này thì cơ hội sống sót sau 5 năm là 50% và nếu không có cả 2 yếu tố nguy cơ này thì tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 75%. Bác sĩ Ngọc cho biết, những yếu tố trên là những yếu tố đặc biệt cần phải chú ý trong đánh giá bệnh nhân và thiết lập chế độ điều trị tích cực cho bệnh nhân để giảm tử vong và tàn tật.

Về mức độ liệt: những bệnh nhân liệt (0, 1, 2) có nguy cơ nặng lên/ tử vong lúc ra khỏi đơn vị đột quỵ cao hơn 16,13 lần nhũng bệnh nhân liệt độ (3, 4, 5). Còn sau 6 tháng thì những bệnh nhân liệt độ (3, 4, 5) có nguy cơ tử vong thấp hơn 0,43 lần những bệnh nhân liệt (0, 1, 2).

Những bệnh nhân phải thở oxy hỗ trợ, thở máy, đặt ống thông dạ dày, đặt ống thông tiểu có nguy cơ nặng lên/ tử vong cao hơn nhũng bệnh nhân không thở oxy, không thở máy, không đặt ống thông dạ dày, đặt ống thông tiểu. Những bệnh nhân sốt, tăng bạch cầu, viêm phổi cũng có nguy cơ nặng lên/ tử vong cao hơn nhũng bệnh không có biểu hiện trên (p<0,05).

Có mối liên quan có ý nghĩa (p<0,05) giữa tần suất xuất hiện các yếu tố nguy cơ trong ba ngày đầu nằm viện với tình trạng lúc ra khỏi đơn vị đột quỵ cũng và sau 6 tháng ra viện nếu bệnh nhân tăng lên một yếu tố dự báo thì nguy cơ nặng lên/ tử vong lúc ra khỏi đơn vị đột quỵ cũng tăng lên.

Như vậy, thông qua kết quả nghiên cứu, một số yếu tố nguy cơ trong ba ngày đầu nằm viện góp phần làm tăng nặng bệnh và tử vong khi ra viện như: điểm NIHSS, Glasgow, độ liệt, thở oxy, thở máy, phải đặt thông dạ dày, thông tiểu, sốt, bạch cầu tăng, viêm phổi, suy tim cấp, suy thận cấp. Tuy nhiên theo dõi sau 6 tháng, khi phân tích hồi qui logicstic chỉ các yếu tố như: điểm NIHSS > 15 điểm, liệt nặng độ (0, 1, 2), thở máy, phải đặt ống thông dạ dày và tần suất các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân là có liên quan có ý nghĩa (p < 0,05) làm bệnh nặng lên và tử vong.

Tác giả nghiên cứu có kết luận:
- Tuổi trung bình: 74,6 + 9,5 tuổi, 63,0% nhập viện là liệt nửa người, 100% có từ một yếu tố nguy cơ trở lên, thời gian điều trị trung bình là 12,4 + 8,5 ngày.

- 82,1% bệnh nhân còn sống, nặng xin về và tử vong 17,9%, bệnh thuyên giảm về thẳng nhà 70,5%; chuyển khoa điều trị phục hồi 11,7%. Theo dõi sau 6 tháng (249 bệnh nhân) có 71,9% ổn định, 17,3% tái phát và 10,8% tử vong.

- Những yếu tố làm tăng nặng bệnh và tử vong trong ba ngày đầu nhập viện gồm: điểm Glasgow < 13 điểm, điểm NIHSS > 15 điểm, liệt nửa người (độ 0-2), phải thở oxy hỗ trợ, thở máy, đặt ống thông dạ dày, thông tiểu, sốt, bạch cầu tăng, viêm phổi, suy tim cấp, suy thận cấp. Trong đó các yếu tố: điểm NIHSS, Glasgow, mức độ liệt là liên quan có ý nghĩa (p < 0,05).

- Theo dõi sau 6 tháng ở 249 bệnh nhân ra viện, chỉ có các yếu tố: điểm NIHSS > 15 điểm, liệt nặng độ (0, 1, 2), thở máy đặt ống thông dạ dày và có từ hai yếu tố nguy cơ trở lên trong ba ngày đầu nằm viện là các yếu tố có liên quan với nặng bệnh và tử vong, (p<0,05).
Tường Huân

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 109

Số lượt truy cập: 9286626

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang