[Đăng ngày: 13/12/2018]
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Văn Bình cùng cộng sự Bệnh viện K, tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Kết quả sớm của phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng trên bệnh nhân ung thư trực tràng thấp được hóa xạ trị trước mổ tại bệnh viện K”.

Theo tác giả nghiên cứu, tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân là có chẩn đoán xác định UTTT thấp (cực dưới u cách rìa hậu môn < 5cm) với mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến. Giai đoạn lâm sàng trước điều trị T3-4 và/hoặc N1-2 và M0 theo phân loại AJCC 2010. Được hóa xạ trị đồng thời trước phẫu thuật. Được chỉ định phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng đường bụng tầng sinh môn. Có bệnh án ghi chép đầy đủ, biên bản phẫu thuật chi tiết, có mô tả tổn thương trong mổ và theo dõi bệnh nhân đến ít nhất 30 ngày sau phẫu thuật.

Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, đối với kỹ thuật nạo vét hạch trong phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng, nạo vét hạch liên quan tới việc thắt các mạch máu của trực tràng và cắt toàn bộ MTTT. Theo nguyên tắc, thắt mạch máu ở vị trí càng gần nguyên ủy hơn thì số lượng hạch vét được càng nhiều hơn. Ngày nay, các phẫu thuật viên trên thế giới đều đồng thuận thắt mạch dưới chỗ chia của động mạch đại tràng trái trên là đủ trong phẫu thuật cắt cụt triệt căn UTTT thấp.

Về biến chứng sau mổ, trong nghiên cứu của tác giả, tỷ lệ biến chứng chung là 8,7%. Biến chứng gặp nhiều nhất là rối loạn chức năng bàng quang gặp ở 2 bệnh nhân (4,3%). Hai bệnh nhân này biểu hiện bí tiểu sau khi rút ống thông bàng quang, các bệnh nhân được đặt lại ống thông tiểu, hướng dẫn tập phục hồi chức năng bàng quang tích cực và được rút ống thông tiểu sau 6 và 7 ngày. Một trường hợp bị chảy máu tầng sinh môn sau khi rút mèche, bệnh nhân được khâu cầm máu tại chỗ và không phải chuyển mổ lại. Trường hợp duy nhất phải chuyển mổ lại là bệnh nhân có biểu hiện tắc ruột cao hậu phẫu ngày thứ 8. Tổn thương trong mổ xác định nguyên nhân tắc là do quai ruột non kẹt xuống khe hở phúc mạc tiểu khung, quai ruột non chưa có dấu hiệu hoại tử. 15 phút sau khi giải phóng quai ruột và đánh giá lại chức năng quai ruột còn tốt, bệnh nhân chỉ phải khâu lại khe hở phúc mạc tiểu khung và bảo tồn được quai ruột tắc. Bệnh nhân hậu phẫu ổn định và chuyển khoa sau mổ 11 ngày. Nghiên cứu CLASSIC trên 268 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi điều trị UTTT cho thấy tỷ lệ biến chứng là 39%.

Thời gian hậu phẫu: Theo kết quả nghiên cứu của tác giả, thời gian hậu phẫu là 8,6 + 2,2 ngày. Thời gian hậu phẫu lâu nhất là trường hợp bệnh nhân bị biến chứng tắc ruột sau mổ. Theo tác giả Zhou Z.G. thời gian hậu phẫu của mổ mở và phẫu thuật nội soi lần lượt là 13,3 + 3,4 ngày và 8,1 + 3,1 ngày (p<0,001). Thời gian hậu phẫu ngắn chính là biểu hiện ưu điểm “hậu phẫu nhẹ nhàng” của phẫu thuật nội soi.

Tác giả nghiên cứu có kết luận, phẫu thuật nội soi là phương pháp ngoại khoa hiệu quả, an toàn trong điều trị bệnh nhân ung thư trực tràng thấp đã được hóa xạ trị tiền phẫu với thời gian mổ trung bình 139,7 + 29,6 (phút). Tai biến trong mổ thấp 2%, tỷ lệ chuyển mổ mở 6%, thời gian có nhu động ruột 2,2 + 0,9 (ngày), thời gian dùng thuốc giảm đau 3,4 + 0,9 (ngày), thời gian hậu phẫu là 8,6 + 2,2 ngày. Biến chứng sau mổ 8,7%, không có tử vong sau mổ. Tuy nhiên cần nghiên cứu dài hơn để đánh giá kết quả ung thư học.      
 
Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là bệnh lý ác tính của đại trực tràng, đứng thứ 4 về tỷ lệ mắc mới và đứng thứ 5 về tỷ lệ tử vong trong số các bệnh lý ác tính thường gặp. 
Khoảng một phần ba trong số đó là ung thư trực tràng (UTTT). Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ tử vong do bệnh UTĐTT năm 2012 lần lượt là 10,1 và 7,0/100.000 dân. 

Điều trị bệnh UTTT cần phối hợp đa mô thức để đạt được kết quả cao nhất, trong đó, phẫu thuật đóng vai trò chính, hóa chất và xạ trị có tác dụng bổ trợ (trước hoặc sau phẫu thuật). Các nghiên cứu cho thấy khi tiến hành hóa xạ trị đồng thời trước mổ sẽ có tỷ lệ đáp ứng cao, tăng khả năng phẫu thuật triệt căn, giảm tái phát tại chỗ và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân. Phẫu thuật nội soi ra đời đã đánh dấu một kỷ nguyên mới trong điều trị phẫu thuật bệnh UTTT. Năm 1992, Sackier J.M. tiến hành thành công phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng. Sau hơn hai thập kỷ, phẫu thuật nội soi đã được chứng minh là không chỉ đem lại kết quả cao hơn về giảm đau sau mổ, phục hồi nhanh và tính thẩm mỹ mà còn an toàn, hiệu quả khi so sánh với mổ mở kinh điển.
Đức Bảo
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 161

Số lượt truy cập: 9286703

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang