
Tìm hiểu những nguy cơ trong 3 ngày đầu nhập viện ở những người > 60 tuổi có làm nặng bệnh lên và góp phần vào hậu quả của đột quỵ thiếu máu não cục bộ khi ra viện và sau 6 tháng như thế nào, từ năm 2014 đến năm 2017, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Huy Ngọc cùng cộng sự bệnh viện Đa khoa Phú Thọ thực hiện nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc báo cáo đề tài “Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ trong ba ngày đầu nhập viện ở người cao tuổi đột quỵ thiếu máu não cục bộ”.
Đối tượng nghiên cứu gồm 308 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, bị nhồi máu não cấp được điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ từ (2014 đến 2017).
Tiêu chuẩn lựa chọn: các bệnh nhân nghiên cứu được chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não cục bộ theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (1989). Lâm sàng, bệnh xảy ra đột ngột với tổn thương thần kinh khu trú tồn tại trên 24 giờ. Phim Ctscan hoặc cộng hưởng từ sọ não (MRI) có hình ảnh giảm tỷ trọng mới tương ứng với lâm sàng.
Bác sĩ Ngọc cho biết về kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng của bệnh nhân lúc ra khỏi đơn vị đột quỵ chủ yếu là thuyên giảm về thẳng nhà (70,5%); có 11,7% bệnh nhân thuyên giảm chuyển về khoa PHCN và 17,9% nặng lên, xin về, tử vong. Trong 249 bệnh nhân ra viện còn sống, có 179 (71,9%) ổn định sau 6 tháng ra viện; 17,3% tái phát và 10,8% tử vong. So với một số nghiên cứu trước đây, kết quả này cũng không khác biệt. Mức độ tàn tật cảu người bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, mức độ chăm sóc y tế, thời gian từ lúc khởi phát đến khi được điều trị, vị trí, kích thước ổ tổn thương, khả năng cấp cứu ban đầu…
Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị: kết quả thống kê cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa (p<0,05) giữa tuổi của bệnh nhân và tình trạng lúc ra khỏi đơn vị đột quỵ. Những bệnh nhân từ 60-69 tuổi có nguy cơ nặng lên/ tử vong thấp hơn 2,54 lần tuổi từ 70-79, 4,03 lần tuổi từ 80-89 và thấp hơn 9,50 lần tuổi từ 90 trở lên; tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân từ 60-69 tuổi thấp hơn 12,72 lần những bệnh nhân 80-89, thấp hơn 13,14 lần những bệnh nhân từ 90 tuổi trở lên. Có thể thấy rằng, ở người cao tuổi, quá trình phục hồi bệnh sẽ trở nên khó khăn hơn do sự lão hóa theo tuổi các cơ quan của cơ thể nên bệnh nhân tuổi càng cao tỷ lệ phục hồi và thuyên giảm bệnh càng thấp, tỷ lệ tử vong càng cao.

Khi bệnh nhân có đồng thời nhiều yếu tố nguy cơ thì tình trạng khi ra viện tỷ lệ nặng lên hay tử vong sẽ cao hơn. Khi đối tượng nghiên cứu tăng lên 1 yếu tố thì nguy cơ nặng lên/ tử vong lúc ra khỏi đơn vị đột quỵ tăng lên 1,50 lần. Tuy nhiên, sau 6 tháng ra viện, tác giả nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa tần suất xuất hiện các yếu tố nguy cơ trước đột quỵ với tình trạng lúc sau ra viện 6 tháng. Mối liên quan có ý nghĩa (p<0,05) giữa một số yếu tố nguy cơ trong ba ngày đầu nằm viện gồm: điểm NIHSS, điểm Glasgow, độ liệt, thở oxy, thở máy, đặt ống thông dạ dày, ống thông tiểu, sốt, bạch cầu tăng, viêm phổi, suy tim cấp, suy thận cấp với tình trạng lúc ra khỏi đơn vị đột quỵ. Những bệnh nhân có điểm NIHSS từ 0-6 điểm có nguy cơ nặng lên/ tử vong thấp hơn 2,45 lần những bệnh nhân có điểm NIHSS từ 7-15 điểm và thấp hơn 8,97 lần những bệnh nhân có điểm NIHSS > 15 điểm. Những bệnh nhân sau khi ra viện 6 tháng có điểm NIHSS từ 0-15 điểm có nguy cơ tử vong thấp hơn 4,64 lần bệnh nhân có điểm NIHSS > 15 điểm.
Thang điểm hôn mê Glasgow là một thang điểm lượng hóa để đánh giá tình trạng ý thức của bệnh nhân. Giá trị dự báo của thang điểm Glasgow cũng được thể hiện khi khảo sát tỷ suất chênh dựa trên ba mức: từ 3-7 điểm, từ 8-12 điểm và từ 13-15 điểm. Có thể nói thang điểm Glasgow là một thang điểm giúp tiên lượng mức độ nặng của bệnh nhân đột quỵ khi phải đặt ống nội khí quản để thở máy. Kết quả của nghiên cứu cũng tương tự như nhận xét của tác giả Miah MT và cộng sự khi đánh giá ở nhóm bệnh nhân đột quỵ có điểm Glasgow từ 3-8 điểm có tỷ lệ tử vong là 12,07%, còn nhóm có điểm Glasgow từ 13-15 điểm không có bệnh nhân nào tử vong. Thang điểm Glasgow vừa đơn giản vừa có giá trị dự báo cao và nên trở thành công cụ thường qui khi đánh giá bệnh nhân nhồi máu não trên lâm sàng.
Tác giả nghiên cứu có kết luận
- Tuổi trung bình: 74,6 + 9,5 tuổi, 63,0% nhập viện là liệt nửa người, 100% có từ một yếu tố nguy cơ trở lên, thời gian điều trị trung bình là 12,4 + 8,5 ngày.
- 82,1% bệnh nhân còn sống, nặng xin về và tử vong 17,9%, bệnh thuyên giảm về thẳng nhà 70,5%; chuyển khoa điều trị phục hồi 11,7%. Theo dõi sau 6 tháng (249 bệnh nhân) có 71,9% ổn định, 17,3% tái phát và 10,8% tử vong.
- Những yếu tố làm tăng nặng bệnh và tử vong trong ba ngày đầu nhập viện gồm: điểm Glasgow < 13 điểm, điểm NIHSS > 15 điểm, liệt nửa người (độ 0-2), phải thở oxy hỗ trợ, thở máy, đặt ống thông dạ dày, thông tiểu, sốt, bạch cầu tăng, viêm phổi, suy tim cấp, suy thận cấp. Trong đó các yếu tố: điểm NIHSS, Glasgow, mức độ liệt là liên quan có ý nghĩa (p < 0,05).
- Theo dõi sau 6 tháng ở 249 bệnh nhân ra viện, chỉ có các yếu tố: điểm NIHSS > 15 điểm, liệt nặng độ (0, 1, 2), thở máy đặt ống thông dạ dày và có từ hai yếu tố nguy cơ trở lên trong ba ngày đầu nằm viện là các yếu tố có liên quan với nặng bệnh và tử vong, (p<0,05).
Nghi Anh