
Phẫu thuật thẩm mỹ mi dưới được ra đời và phát triển từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 nhờ những thành tựu trong ngành chống nhiễm khuẩn và gây mê. Đây là một phương pháp can thiệp vào cấu trúc giải phẫu vùng mi dưới nhằm làm trẻ hóa hoặc cải thiện hình thái vùng mi dưới để đạt được kết quả thẩm mỹ cho vùng này nói riêng và toàn bộ khuôn mặt nói chung.
Hiện nay có rất nhiều phương pháp cũng như kỹ thuật can thiệp vào vùng mi dưới để đạt được kết quả thẩm mỹ mong muốn, cùng với đó là hàng trăm cơ sở thẩm mỹ có ứng dụng các phương pháp này nổi lên.
Từ tháng 6/2016 đến tháng 9/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Thiết Sơn cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Tây Nguyên tiến hành nghiên cứu mô tả hàng loạt ca báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả phẫu thuật thẩm mỹ mi dưới và một số biến chứng phổ biến”.
Đối tượng nghiên cứu là các trường hợp có chỉ định phẫu thuật thẩm mỹ mi dưới được tiến hành phẫu thuật thẩm mỹ mi dưới tại Bệnh viện Xanh Pôn từ tháng 6/2016 đến tháng 9/2017.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả loạt ca với kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện: với tất cả những bệnh nhân nào đủ tiêu chuẩn chọn vào và loại ra trong thời gian nghiên cứu đều được lấy vào nghiên cứu. Trong thời gian trên, tác giả đã khảo sát được 28 trường hợp.
Về phương pháp nghiên cứu, số liệu được thu thập bằng cách quan sát và ghi nhận qua hình ảnh; phỏng vấn đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi soạn sẵn. Quy trình thu thập số liệu:
Khám và đánh giá tình trạng của mi dưới của người bệnh, chụp ảnh trước mổ; làm các xét nghiệm cơ bản trước phẫu thuật, thử test lidocain; Tiến hành phẫu thuật: phương pháp phẫu thuật là đường mổ qua da, sử dụng hai kỹ thuật là cắt da kèm mỡ thừa hoặc dàn mỡ và cắt da thừa.

Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, đối tượng nghiên cứu ở độ tuổi > 35. Trong đó, chủ yếu là giới nữ, chiếm 92,9%. Tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của David A. Hidalgo nghiên cứu ở New York năm 2006 – 2010 (90,3% là nữ). Chứng tỏ rằng nhu cầu về phẫu thuật thẩm mỹ mi dưới ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới hầu hết là ở giới nữ. Điều này luôn đúng bởi nhu cầu cải thiện sắc đẹp luôn là đặc tính vốn có của phái nữ. Với 28 đối tượng phẫu thuật thẩm mỹ mi dưới trên đây, độ tuổi trung bình là 52,5 tuổi, nhỏ nhất là 39, lớn nhất là 66, tác giả chia làm hai nhóm: từ 35-50 tuổi và > 50 tuổi. Nhóm trên 50 tuổi chiếm đa số (64,3%). Trong các lý do khiến bệnh nhân đến bệnh viện để phẫu thuật thẩm mỹ mi dưới, lý do chính là lão hóa, do đó, nguyên nhân do thừa da và thừa mỡ chiếm trên 50%, lớn hơn gấp 2 lần mỗi nguyên nhân thừa da hay thừa mỡ đơn thuần là điều tất yếu.
Qua kết quả nghiên cứu, tác giả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có màu sắc da mi dưới thâm quầng chiếm 25%. Yếu tố thâm này không trực tiếp làm tăng thêm sự sa trễ hay lão hóa của vùng mi dưới nhưng lại gián tiếp ảnh hưởng đến nhận định của bệnh nhân. Vì ở những trường hợp màu sắc da mi dưới thâm quầng sẽ khiến cho người bệnh và cả người khác bị một ảo giác về độ sâu lõm vùng mi dưới sâu hơn thực tế. Ngoài ra, màu sắc da mi dưới thâm quầng cũng làm nổi bật thêm vùng mi dưới so với các vùng lân cận, qua đó làm nổi bật hơn những nhược điểm hiện có của vùng mi dưới.
Để có một chỉ định phù hợp với các biến đổi giải phẫu mi dưới, nhiều tác giả đã cố gắng phân loại các biến đổi giải phẫu, trong đó biến đổi vùng rãnh lệ (TTD) được quan tâm nhiều nhất. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phân loại của Mohammed G. Turkmani để đánh giá. Phân loại này chia làm 5 loại nhưng trong nghiên cứu của tác giả không có trường hợp nào thuộc loại 1. Nhóm thuộc loại 3 chiếm tỷ lệ cao nhất 57,2%. Những biến đổi giải phẫu của loại 3 bao gồm cả tình trạng thừa da và sa trễ mỡ mi dưới kết hợp. Đây là loại có lượng mỡ và da thừa tương đối nhiều nên việc phẫu thuật cắt bỏ da và lấy mỡ hoặc dàn mỡ sẽ dễ dàng hơn.
Tác giả nghiên cứu có kết luận đối tượng có nhu cầu phẫu thuật thẩm mỹ mi dưới chủ yếu là giới nữ, bắt đầu ở độ tuổi trên 35, nhưng cao nhất là trên 50 tuổi; Những đối tượng thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ mi dưới ở Việt Nam chủ yếu là vừa thừa da, vừa thừa mỡ mi dưới; thừa da mi dưới kết hợp thừa da mi trên và loại rãnh lệ chủ yếu thuộc loại 3.
Kết quả phẫu thuật thẩm mỹ mi dưới được đánh giá theo bệnh nhân đạt 57,1%; trong đó phương pháp được đánh giá đạt cao nhất là mổ thừa mỡ đơn thuần mi dưới (66,7%).
Thời gian hậu phẫu càng dài, tỷ lệ đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân càng cao.
Một số biến chứng thường xảy ra sau mổ: tụ máu, sưng nề và phản ứng sẹo, trong đó, tỷ lệ tụ máu thấp nhất (25%) và thời gian tụ máu không quá 1 tháng; sưng nề phổ biến trong vòng từ 1 tuần – 1 tháng; phản ứng sẹo sau mổ phổ biến trong thời gian từ 1 – 3 tháng; Hai yếu tố sưng nề và sẹo cứng đã ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân.
Ngô Thanh