Thiểu ối là tình trạng lượng nước ối giảm so với lượng nước ối bình thường tính theo tuổi thai.

Tỷ lệ thiểu ối khác nhau giữa các tác giả: năm 2015, Guy Shrem nghiên cứu trên 36.000 thai phụ ở Israel thấy có 6,7% thai phụ gặp thiểu ối; Cristina Rossi và cộng sự thống kê có 17% thai phụ thiểu ối ở tuổi thai 37-42 tuần; Nguyễn Thị Huyền thống kê tại bệnh viện phụ sản Trung ương năm 2011 tỷ lệ thai phụ thiểu ối là 3,06%. Có 5 nhóm nguyên nhân gây thiểu ối đã được thống kê: -Do bất thường của thai nhi (bất thường nhiễm sắc thể, bất thường bẩm sinh, thai chậm phát triển, thai chết lưu, thai quá ngày sinh), -Do phần phụ (vỡ ối, hội chứng truyền máu song thai), -Do thai phụ (suy tuần hoàn tử cung – rau thai, tăng huyết áp, tiền sản giật), -Do thuốc dùng trong quá trình mang thai (nhóm thuốc ức chế men chuyển, nhóm thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin), và những trường hợp thiểu ối không rõ nguyên nhân. Tại Việt Nam, phương pháp đo chỉ số nước ối bằng siêu âm (Amniotic fluid index – AFI) của Phelan và cộng sự đang được áp dụng để chẩn đoán thiểu ối trong thực hành lâm sàng. Thiểu ối gây ra ảnh hưởng tới cả mẹ và thai nhi: làm tăng tỷ lệ mổ lấy thai và can thiệp khi đẻ đường âm đạo với mẹ, tăng tỷ lệ đẻ non, tăng nguy cơ mắc bệnh sơ sinh và có nguy cơ cao gây sảy thai và thai chết lưu.
Từ tháng 10/2016 đến tháng 9/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Hoàng Phương Thảo cùng cộng sự trường Đại học Y Hà Nội, thực hiện nghiên cứu mô tả tiến cứu báo cáo đề tài “Kết quả thai nghén của những trường hợp thiểu ối ở tuổi thai từ 22 đến 37 tuần tại bệnh viện Phụ sản Trung ương”.
Đối tượng nghiên cứu là 94 sản phụ tại bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tiêu chuẩn lựa chọn: Mẹ hoàn toàn khỏe mạnh, có một thai thai sống, tuổi thai từ 22 đến 37, chỉ số ối theo siêu âm < 5cm. Tiêu chuẩn loại trừ: đa thai, thai chết lưu, tuổi thai không phù hợp, thiểu ối do rỉ ối võ ối; Chỉ số theo dõi gồm: Các chỉ số đặc điểm sản phụ: tuổi, nghề nghiệp, tiền sử sản khoa, tuổi thai phát hiện thiểu ối; Chỉ số nước ối (theo kỹ thuật đo Phelan) tại thời điểm phát hiện thiểu ối, thời điểm chỉ số nước ối về bình thường hoặc tại thời điểm kết thúc thai nghén; Các bất thường về thai: bất thường hệ tiết niệu, bất thường cơ quan khác, thai chậm phát triển và trường hợp không rõ nguyên nhân; Kết quả thai nghén: tuổi thai kết thúc thai nghén, mổ đẻ, đẻ đường âm đạo, cân nặng khi sinh.
Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu, tuổi mẹ trung bình là 27,5 + 5 tuổi, thai phụ trên 35 tuổi chỉ có 7,4%. 45,8% thai phụ làm công nhân và nông dân, 54,2% sản phụ làm nhân viên văn phòng hoặc kinh doanh tự do. Số thai phụ con so và con rạ bằng nhau và chiếm 50%. Tuổi thai phát hiện thiểu ối cao nhất là 22-28 tuần chiếm 44,7%, nhóm 29-34 tuần chiếm 35,1% và nhóm 35-37 tuần chiếm ít nhất với 20,2%.
Trong nghiên cứu có 27 trường hợp thai bất thường, trong các bất thường hệ tiết niệu chiếm đa số 59,3%, phù thai chiếm 18,5% và còn lại là các bất thường hệ tim mạch, sứt môi hở vòm hàm, các bất thường chi.
Thận bắt đầu tạo nước ối từ tuần 9-11, tăng dần và chiếm 90% tổng lượng nước ối vào khoảng tuần thứ 20 nên bất thường hệ thận-tiết niệu là nguyên nhân gây hàng đầu gây thiểu ối ở nhóm có bất thường hình thái thai. Trong 16 dị tật thận tiết niệu ở nghiên cứu này có 7 trường hợp loạn sản thận, 3 trường hợp bất sản thận, 5 trường hợp thận đa nang 2 bên và 1 trường hợp van niệu đạo sau kèm theo có hình ảnh giãn đài bể thận hai bên. Nghiên cứu của Grijseels và cộng sự năm 2011 cũng có kết quả tương tự.
Các bất thường ngoài thận gặp với tỷ lệ thấp trong nghiên cứu. Những bất thường này thường được nhiều tác giả mô tả là các bất thường đi kèm tình trạng thiểu ối và chưa tác giả nào chứng minh đây là nguyên nhân trực tiếp gây thiểu ối.

Thiểu ối do bất thường thai sẽ được hội chẩn và nếu có chỉ định đình chỉ thai nghén thì sẽ tư vấn và ngừng thai nghén ở bất kỳ tuổi thai nào. Chỉ định kết thúc thai nghén được đặt ra khi có biểu hiện suy thai, hoặc trường hợp thai chậm phát triển nặng hoặc thai có nguy cơ chết lưu. Nghiên cứu của BS Phương Thảo có 37 trường hợp (39,3%) đình chỉ thai, 35 trường hợp kết thúc thai nghén do đẻ non hoặc do các chỉ định sản khoa (37,2%) và 22,34% chỉ số ối về bình thường. BS Phương Thảo nhận xét, các trường hợp đình chỉ thai thường do bất thường thai nhi (71,43%), 20% do trường hợp do thai chậm phát triển trong tử cung. Nhóm kết thúc thai nghén thì thường do thai chậm phát triển trong tử cung (86,49%). Nhóm có chỉ số ối về bình thường chủ yếu là thiểu ối không rõ nguyên nhân (95,24%). Chính điều này ảnh hưởng trực tiếp tới tuổi kết thúc thai nghén của từng nhóm: bất thường thai nhi thường có chỉ định đình chỉ thai nên tuổi kết thúc thai nghén trung bình là 27,8 + 4,1 tuần, nhóm thai chậm phát triển trong tử cung thường kết thúc ở 33 + 4 tuần và nhóm không rõ nguyên nhân là 36,4 + 4,7 tuần.
Trong 58 trường hợp chỉ định kết thúc thai nghén, 20,7% trường hợp đẻ đường âm đạo, 79,3% mổ lấy thai. Chỉ định mổ lấy thai do thai suy chiếm 58,6%, do mổ cũ là 8,7% và 32,6% là do ngôi mông, cổ tử cung không tiến triển, đầu không lọt…
BS Phương Thảo cho biết, nguyên nhân thai chậm phát triển trong tử cung gây suy thai là chỉ định mổ lấy thai chủ yếu 85,19%. Tỷ lệ mổ lấy thai ở thiểu ối do thai chậm phát triển trong tử cung có tim thai không đáp ứng là 21%, theo nghiên cứu của Chauhan và cộng sự năm 2007. Khác biệt tỷ lệ mổ này là do trên thực hành sản khoa, tác giả nghiên cứu đánh giá suy thai dựa trên nhiều thông số hơn như: đo chỉ số não rốn qua siêu âm, nhịp tim thai trên monitoring… và do yếu tố xã hội (gia đình mong muốn mổ lấy thai).
Kết luận nghiên cứu tác giả cho biết các bất thường thận – tiết niệu chiếm tới 59,3% các bất thường thai liên quan tới thiểu ối. Thiểu ối liên quan tới thai bất thường được chỉ định đình chỉ thai tới 93,1%.
Phúc Nguyên