[Đăng ngày: 27/12/2018]
Tắc tá tràng bẩm sinh cần được chẩn đoán và điều trị sớm tránh cho trẻ bị rối loạn nước và điện giải, thăng bằng kiềm toan, viêm phổi, hậu quả có thể dẫn tới tử vong. Biểu hiện lâm sàng sớm của tắc tá tràng bẩm sinh là trẻ nôn trong vòng 24 giờ đến 48 giờ đầu sau sinh, chất nôn là sữa lẫn dịch mật (80% là tắc dưới nhú tá tràng). Hình ảnh đặc trưng của tắc tá tràng bẩm sinh trên phim X quang bụng không chuẩn bị là hình hai mức nước hơi biểu hiện của sự giãn của dạ dày và tá tràng trên chỗ tắc. Tuy việc chẩn đoán sớm tắc tá tràng bẩm sinh là đơn giản nhưng cũng đã có một số trường hợp trẻ đến cơ sở y tế muộn, biểu hiện mất nước nặng. Cùng với sự tiến bộ của gây mê hồi sức khoa nhi, tiến bộ của các phương pháp phẫu thuật, chăm sóc nuôi dưỡng thì tỷ lệ tử vong của tắc tá tràng bẩm sinh ngày càng giảm 45% (1977), 7% (1993), 4% (1998).

Ở Việt Nam, với sự phát triển của siêu âm trước sinh và hình thành các trung tâm, chẩn đoán trước sinh trên cả nước nên việc chẩn đoán tắc ruột sơ sinh ngày càng sớm nên các bệnh nhân tắc tá tràng bẩm sinh ngày càng được quản lý sớm.

Nhóm nghiên cứu gồm tác giả Vũ Hồng Tuân cùng cộng sự Bệnh viện Việt Đức, trường Đại học Y Hà Nội thực hiện báo cáo nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trị bệnh tắc tá tràng bẩm sinh tại Bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2010-2015”.

Đối tượng nghiên cứu là tất cả các bệnh nhi chẩn đoán trong mổ là tắc tá tràng. Tiêu chuẩn loại trừ: Các bệnh nhi chẩn đoán tắc ruột sơ sinh khi mổ ra nguyên nhân là các thương tổn khác như: teo ruột, tắc ruột phân xu, giãn đại tràng bẩm sinh, xoắn ruột, dị tật hậu môn trực tràng… Trong giai đoạn nghiên cứu có 45 trường hợp bệnh nhi tắc tá tràng được mổ tại khoa.

Bác sĩ Vũ Hồng Tuân phân tích báo cáo, thời gian từ lúc đẻ đến khi được mổ của 43 bệnh nhân trong nhóm sơ sinh thay đổi từ 1 ngày đến 44 ngày. Trung bình là: 7,84 + 1,65 ngày. Thời gian chờ trước mổ phụ thuộc vào: khó khăn trong chẩn đoán, hồi sức trước mổ, liên quan đến bàn mổ… Điều trị trước mổ bao gồm: Đặt sonde dạ dày, ủ ấm, kháng sinh và truyền dịch theo cân nặng và mức độ mất nước được thực hiện ở tất cả các trường hợp. Có 14 bệnh nhân có chẩn đoán trước sinh tắc tá tràng được phẫu thuật trong ngày đầu sau đẻ chiếm 46,7%.

BS Tuân nhận xét, bệnh nhi tắc tá tràng bẩm sinh rất dễ hạ thân nhiệt đặc biệt là ở trẻ đẻ non, thấp cân hoặc có nhiễm khuẩn kèm theo. Hạ thân nhiệt làm suy yếu tất cả các hệ thống cơ thể, đặc biệt là hệ tim mạch, cần phải cấp cứu ngay. Ủ ấm cho bệnh nhi và theo dõi thân nhiệt thường xuyên trước, trong và sau mổ là yêu cầu bắt buộc đối với phẫu thuật sơ sinh.

Đặt ống thông dạ dày và hút ngắt quãng: đây được xem là yêu cầu chính nếu bệnh nhi được vận chuyển từ cộng đồng tới cơ sở phẫu thuật. Đặt ống thông dạ dày và hút ngắt quãng là để giảm áp lực dạ dày, đề phòng nôn, VPQ-P do hít phải chất nôn và chướng bụng. Nhờ có chẩn đoán trước sinh, trong nghiên cứu này có 65,1% trường hợp bệnh nhân vào khoa phẫu thuật Nhi bệnh viện Việt Đức đã có Sonde dạ dày.

Cân bằng nước-điện giải: Trong nghiên cứu này không có trường hợp nào rối loạn điện giải khi vào viện, chỉ có 1 trường hợp khi vào đường huyết là 0,9mmol/l. Bệnh nhân được truyền dịch dựa theo cân nặng, mức độ mất nước, thân nhiệt.

Kháng sinh được sử dụng ngay khi có chẩn đoán và kéo dài ít nhất là 3 ngày sau mổ. Thời gian sử dụng kháng sinh kéo dài hơn khi bệnh nhi có VPQ-P hoặc có biến chứng sau mổ.

Có 2 bệnh nhân trong nhóm trẻ lớn do mất nước và suy dinh dưỡng lâu ngày nên ngoài bilan chẩn đoán còn cần nuôi dưỡng tĩnh mạch đầy đủ.

BS Tuân đánh giá các thương tổn trong mổ, trong 45 bệnh nhân có 2 bệnh nhân mổ nội soi chiếm 4,4%, trong đó 1 bệnh nhân sơ sinh 3 ngày tuổi, tắc tá tràng D1 do teo tá tràng type III được nối tá- tá tràng tận bên, 1 bệnh nhân nữ 12 tuổi tắc tá tràng D3-D4 do dây chằng Ladd được làm thủ thuật Ladd cả 2 bệnh nhân sau mổ ổn định ra viện.

Phẫu thuật nội soi điều trị tắc tá tràng có thể thực hiện được và an toàn. Tuy nhiên vẫn còn hạn chế là cần thực hiện ở trung tâm phẫu thuật lớn do khó khăn trong gây mê, kĩ thuật mổ nội soi, kinh nghiệm của phẫu thuật viên và trang thiết bị mổ nội soi.

Về vị trí tắc, trong nghiên cứu này có 33 bệnh nhân (75,6%) vị trí tắc được mô tả ở DII tá tràng.
Bác sĩ Tuân báo cáo, việc phát hiện tất cả các  thương tổn phổi hợp trong mổ là hết sức cần thiết vì nó góp phần trong quyết định lựa chọn phương pháp cũng như thành công của phẫu thuật. Có 11 thương tổn phối hợp (24,4%) trong đó 45 bệnh nhi tắc tá tràng bẩm sinh, nhiều nhất là ruột quay bất thường 4 bệnh nhân (8,9%) trong đó có 1 kèm theo xoắn ruột. Ghi nhận 1 trường hợp có teo đoạn đầu hỗng tràng Type I, 1 trường hợp có u ruột non kết quả giải phẫu bệnh u ruột hematoma. Như vậy các thương tổn phối hợp được tìm thấy trong mổ là rất nhiều và đa dạng đòi hỏi phải giám sát thật tỉ mỉ trong khi mổ để không bị bỏ sót.

Lựa chọn kỹ thuật: Tất cả 45 bệnh nhân đều được lập lại lưu thông ruột ngay từ đầu, tùy nguyên nhân gây tắc tá tràng mà có kỹ thuật tương ứng. Nối tá-tá tràng được thực hiện ở 22 bệnh nhân (48,9%), thực hiện nối tá-tá tràng một lớp theo Kimura. Cắt màng ngăn tạo hình tá tràng 13 bệnh nhân (28,9%). Một số tác giả chủ trương dẫn lưu dạ dày để giảm căng giãn tá tràng trên miệng nối, nhưng nhóm nghiên cứu chỉ đặt một sonde lưu ở dạ dày cho đến khi dịch ra trong. Một bệnh nhân mổ lại do hẹp miệng nối có dẫn lưu dạ dày 2 sonde: 1 ở dạ dày và một luồn qua miệng nối xuống ruột non, bệnh nhân sau mổ lại ổn định. 100% bệnh nhân tắc tá tràng do dây chằng Ladd được tiến hành thủ thuật Ladd.
Hoa Phượng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 137

Số lượt truy cập: 9286661

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang