Buồng trứng nằm sâu trong tiểu khung nên ở giai đoạn đầu việc chẩn đoán sớm ung thư buồng trứng thường gặp khó khăn, do đó có tới 70% bệnh nhân bị ung thư buồng trứng được phát hiện ở giai đoạn muộn.

CA125 là chất chỉ điểm sinh học được sử dụng rộng rãi nhất trong ung thư buồng trứng, tuy nhiên độ nhạy của CA125 chỉ đạt tối đa 80% ở bệnh nhân bị ung thư buồng trứng, không đặc hiệu để dự báo sớm ung thư buồng trứng. Trong những năm gần đây HE4 đã được tìm thấy trong hơn một nửa trong số các khối u buồng trứng mà không thể hiện CA125. Sự kết hợp HE4 và CA125 trong chỉ số ROMA rất tiềm năng, đem lại độ nhạy và độ đặc hiệu cao giúp phát hiện sớm ung thư buồng trứng.
Nhóm nghiên cứu gồm tác giả Nguyễn Vũ Quốc Huy cùng cộng sự Bộ môn phụ sản trường Đại học y Dược Huế, khoa sản bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định thực hiện “Nghiên cứu giá trị của HE4 và ROMA trong dự báo ác tính khối u buồng trứng”.
Đối tượng nghiên cứu gồm 178 bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng là u buồng trứng lành tính và ung thư buồng trứng được phẫu thuật khối u tại bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016.
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Bệnh nhân vào viện được chẩn đoán xác định là u buồng trứng hoặc ung thư buồng trứng, có chỉ định phẫu thuật và có kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật.Bệnh nhân được siêu âm, hoặc cắt lớp vi tính kiểm tra khối u.Bệnh nhân có xét nghiệm HE4, CA125 trước mổ.
Kết quả ghi nhận độ nhạy của HE4 trong nghiên cứu là 95%. Độ nhạy hay dương thật bằng 95% có ý nghĩa là còn 5% trường hợp sẽ bị âm tính giả, hay nói cách khác có gần 1/20 các trường hợp mắc bệnh UTBT mà HE4 không phát hiện ra. So sánh với độ nhạy dao động khoảng 74%-83% từ các nghiên cứu trước đây ở nước ngoài, kết quả của nghiên cứu có cao hơn, điều này cho thấy độ tin cậy qua các nghiên cứu về độ nhạy của xét nghiệm HE4 trong chẩn đoán UTBT.
Độ đặc hiệu HE4 trong nghiên cứu ghi nhận được là 98,73%, có nghĩa là trong những trường hợp không bệnh UTBT, xét nghiệm HE4 cho kết quả âm tính 98,73%. Hay nói cách khác trong 100 trường hợp có u buồng trứng mà không phải UTBT, thì chỉ có 1-2 trường hợp xét nghiệm HE4 cho kết quả dương tính. Độ đặc hiệu trong nghiên cứu của nghiên cứu khá cao và tương đồng với các nghiên cứu trong nước và ngoài nước, hầu hết đều > 90%.
BS Huy phân tích, độ đặc hiệu khá cao là một ưu điểm của xét nghiệm HE4 trong chẩn đoán UTBT và giá trị tiên đoán âm cũng rất cao 99,4%. Điều này có ý nghĩa là trên bệnh nhân UTBT nếu xét nghiệm trả lời âm tính, ta có thể kết luận khả năng không bệnh UTBT lên đến 99%. Như vậy với độ nhạy 95%, xét nghiệm HE4 có vai trò như một xét nghiệm giúp xác định bệnh để có hướng xử trí thích hợp cho UTBT, cộng với giá trị tiên đoán âm khá cao 99,4%, HE4 sẽ có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán loại trừ UTBT trên những phụ nữ có khối u buồng trứng. BS Huy cho biết giá trị tiên đoán âm của HE4 qua các nghiên cứu đều lớn hơn 91%, kết quả của nghiên cứu cao hơn có thể do nghiên cứu chọn với số lượng nhỏ cả về u buồng trứng và nhóm UTBT nên độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán âm cao hơn.

Giá trị tiên đoán dương của nghiên cứu 90,5% cao hơn các tác giả nghiên cứu khác là từ 60%-80%. Giá trị tiên đoán dương 90,5% có nghĩa là trên những phụ nữ có khối u buồng trứng, xét nghiệm HE4 dương tính thì chúng ta nói phụ nữ này bị UTBT đúng 90%. Như vậy giá trị tiên đoán dương HE4 cũng không có ý nghĩa cao lắm. Vì có hiện tượng nghịch chuyển nên độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán âm, giá trị tiên đoán dương có giá trị cao, có giá trị thấp. Câu hỏi then chốt của thực tế cần trả lời là xét nghiệm HE4 có giá trị trong chẩn đoán UTBT không? Diện tích dưới đường cong ROC sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh. Kết quả nghiên cứu ghi nhận diện tích dưới đường cong ROC của HE4 là 0.976. Giá trị AUC/ROC của HE4 hầu hết qua các nghiên cứu > 0,9, điều này nói lên HE4 là một xét nghiệm có giá trị cao trong chẩn đoán UTBT.
Về giá trị dự báo của ROMA, ROMA là kết quả của 1 thuật toán sau khi kết hợp giữa kết quả của HE4 và CA125 từ đó tính toán khả năng ác tính của một khối u buồng trứng hay khối u vùng hạ vị ở phụ nữ còn kinh hay đã mãn kinh. Độ nhạy và độ đặc hiệu của ROMA trong kết quả nghiên cứu: 85% và 97,47%. Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Tô Thị Thục Trang (2014): độ nhạy 72,6%, độ đặc hiệu 93,9%. Với kết quả này nói lên ROMA khó có thể chấp nhận là một thuật toán để xác định bệnh UTBT ở bệnh nhân có khối u buồng trứng.
ROMA có độ nhạy cao hơn so với xét nghiệm CA125 tuy nhiên ROMA có độ đặc hiệu khá cao (97,47%) so với một số nghiên cứu khác. Theo Võ Thành Nhân nghiên cứu với n=31 năm 2010, độ nhạy của ROMA là 88,2% và độ đặc hiệu 64,3%. Nồng độ HE4 cao, sẽ làm tăng độ đặc hiệu; phải chăng nồng độ HE4 ở người Việt Nam cao hơn bình thường, bởi vậy một nghiên cứu khác đang tiến hành về nồng độ trung bình của HE4 huyết thanh ở người Việt Nam, BS Huy lưu ý.
Trong chẩn đoán ung thư buồng trứng, để có dự đoán chính xác khả năng lành tính hay ác tính của khối u buồng trứng, với từng nhóm còn kinh hay mãn kinh nên sử dụng ROMA khác nhau. Ở nhóm mãn kinh, nên sử dụng ROMA, dự đoán kết quả sẽ chính xác hơn. Ở nhóm còn kinh, nên sử dụng riêng lẻ nồng độ HE4, sẽ cho kết quả tốt hơn. HE4 đặc hiệu hơn CA125 trong các bệnh u buồng trứng. HE$ và CA125 hay ROMA làm tăng độ nhạy trong chẩn đoán phân biệt khối u buồng trứng, tuy nhiên HE4 có độ đặc hiệu hơn. ROMA không áp dụng được ở những bệnh nhân có nồng độ các dấu ấn u trong huyết thanh âm tính.
Tác giả nghiên cứu có kết luận HE4 và ROMA có giá trị dự báo ung thư buồng trứng cao, trong đó ở nhóm bệnh nhân mãn kinh có giá trị dự báo tốt hơn so với nhóm chưa mãn kinh. Nghiên cứu này cho thấy HE4 có các chỉ số giá trị dự báo (độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm) cao hơn rõ rệt so với CA125 và cũng cao hơn so với ROMA.
Huy Hoàng