
Thường đối với ung thư tuyến giáp có hai dạng là dạng nhú (carcinôm nhú) và dạng nang (carcinôm nang). Ung thư tuyến giáp dạng nhú chiếm tỷ lệ đến 80%.
Ung thư tuyến giáp dạng nhú thường cho di căn hạch vùng. Di căn hạch cổ bên thường xảy ra ở nhóm hạch cảnh giữa hoặc cảnh thấp. Di căn hạch cổ có liên quan với tính chất đa ổ của bướu, tính chất xâm lấn vỏ bao của bướu. Ảnh hưởng của di căn hạch trong ung thư tuyến giáp có nguy cơ tái phát bệnh cao hơn, vì vậy có nhiều nghiên cứu hiện nay đang chú ý đến tỷ lệ sống còn của người bệnh không có tái phát bệnh. Vấn đề đặt ra cho việc phẫu thuật điều trị phù hợp đối với những trường hợp di căn hạch cổ của ung thư tuyến giáp đang được quan tâm, lý tưởng là phải đạt được phẫu thuật tận gốc vừa phải giảm thiểu các biến chứng liên quan đến điều trị. Độ rộng của phẫu thuật nạo hạch cổ trong điều trị ung thư tuyến giáp dạng nhú bao gồm tối thiểu các nhóm 2,3 và 4. Tuy nhiên các hướng dẫn lâm sàng gần đây có khuyến cáo về mức độ nạo hạch cổ chọn lọc đến cả nhóm 5b.
Tại Hội nghị khoa học Phòng chống Ung thư TP Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức vào tháng 12/2015, nhóm tác giả Ngô Viết Thịnh, Trương Thành Trí, Phạm Văn Kiện- Khoa Ngoại Bệnh viện Ung bưới TP Hồ Chí Minh đã báo cáo đề tài “Kiểm soát tỷ lệ di căn hạch cổ nhóm 5b trong carcinôm tuyến giáp dạng nhú”. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2015 đến tháng 9/2015. Có 83 đối tượng tham gia nghiên cứu có xét nghiệm FNA hạch cổ bên là carcinôm tuyến giáp trạng dạng nhú di căn hạch; carcinôm tuyến giáp dạng nhú đã điều trị, tái phát hạch cổ bên. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 37; nữ giới chiếm 78,3%; 65 trường hợp điều trị lần đầu; 17 trường hợp đã được phẫu thuật ở nơi khác. Đối với những trường hợp đã mổ nhóm nghiên cứu tiến hành cắt giáp hoàn tất và nạo hạch cổ cùng lúc.
Theo chia sẻ của BS. Ngô Viết Thịnh, hầu hết ung thư tuyến giáp có tiên lượng tốt. Mục tiêu đặt ra là làm giảm tỷ lệ tái phát và mổ lại, di căn hạch cổ sớm là một trong những yếu tố hàng đầu có liên quan đến tái phát. Do đó, việc xử lý tốt hạch cổ bên và trung tâm là biện pháp hiệu quả để kiểm soát di căn và giảm tái phát. Trong nghiên cứu của tác giả, báo cáo cho thấy tỷ lệ di căn hạch nhóm 5b là 26,5%, khá cao. BS. Thịnh lưu ý siêu âm và CT-scan trước mổ có vẻ không đem lại lợi ích khi khảo sát hạch nhóm 5 trước mổ. Độ nhạy của siêu âm chỉ đạt 26,3%, tuy nhiên tác giả nghiên cứu không phủ nhận vai trò của siêu âm trong chẩn đoán trước mổ, vì di căn hạch nhóm 5 thông thường nằm trong bệnh cảnh di căn nhiều nhóm hạch cổ bên.
Qua khảo sát mối liên quan độc lập các yếu tố giới, nhóm tuổi, vị trí bướu, kích thước, tính chất xâm lấn của bướu đều không ghi nhận có liên quan đến di căn hạch nhóm 5, điều này cũng tương tự đối với di căn hạch ở nhóm 3 và nhóm 4. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành nạo hạch chọn lọc chỉ đối với nhóm 5b, xác định bằng mặt phẳng ngang đi qua bờ dưới sụn nhẫn, tác giả nghiên cứu lưu ý trong quá trình nạo phải chú ý các thần kinh cảm giác để giảm thiểu biến chứng sau mổ cho người bệnh như đau vai, tê vùng vai, xệ vai.
BS.Ngô Viết Thịnh đã có kết luận nạo hạch nhóm 5 ở trường hợp ung thư tuyến giáp dạng nhú có di căn hạch cổ bên nên được thêm vào trong nạo hạch cổ thường quy, trong quá trình nạo hạch nên chọn lọc nhóm 5b để giảm thiểu tối đa biến chứng cho người bệnh.
Cũng tại Hội nghị khoa học, nhóm tác giả nghiên cứu Võ Khắc Nam cùng cộng sự Khoa Y học Hạt nhân Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh báo cáo đề tài “Hạch cổ tán phát/ tồn tại trong carcinôm tuyến giáp dạng nhú: kết quả điều trị ban đầu giai đoạn 2011-2015”.
Nghiên cứu có 106 trường hợp bệnh nhân hạch tồn tại/ tái phát đã được điều trị nạo hạch tham gia. Sau đó có 35 trường hợp bị loại trừ do trước và sau mổ hiện diện Antithyroglobulin cao, còn lại 71 trường hợp.
Tác giả nghiên cứu chia sẻ theo khuyến cáo của Hiệp hội Tuyến giáp Mỹ 2009, đối với những trường hợp tái phát tại chỗ thì phương pháp điều trị đầu tiên là phẫu thuật, sau đó nếu còn hấp thu được I-131 người bệnh sẽ được tiếp tục điều trị I-131. Hầu hết các trường hợp hạch tái phát/ tồn tại được phát hiện qua theo dõi bằng siêu âm; có 08 trường hợp nghi ngờ hạch ác tính khả năng do nạo hạch còn sót sau mổ. Khi siêu âm nghi ngờ là hạch thường, có kích thước lớn hơn 6mm, người bệnh sẽ được tiến hành làm FNA. Nếu FNA khẳng định ung thư tuyến giáp dạng nhú di căn hạch người bệnh sẽ được tiến hành nạo hạch. Đối với 03 trường hợp có kết quả Thyroglobulin kích thích tăng, xạ hình toàn thân âm tính, siêu âm bình thường, tiến hành xét nghiệm PET/CT phát hiện có hạch cổ bất thường tăng hoạt động chuyển hóa. PET/CT là xét nghiệm chẩn đoán đối với ung thư tuyến giáp có xạ hình âm tính và Thyroglobulin máu tăng trên 10ng/mL.
Tác giả nghiên cứu cho rằng việc nạo hạch cổ tái phát giúp kiểm soát tại chỗ; giúp phòng ngừa biến chứng xâm lấn tại chỗ sau này. Việc theo dõi Thyroglobulin máu giúp phát hiện sớm tình trạng tái phát dù bướu còn rất nhỏ, khó phát hiện trên lâm sàng. Qua theo dõi trung bình 8,8 tháng sau điều trị có đến 95,8% số trường hợp có Thyroglobulin giảm sau điều trị. Kết quả điều trị cho thấy có 25,4% đối tượng nghiên cứu đáp ứng hoàn toàn; cho thấy sự hiệu quả của điều trị nhằm mục tiêu đáp ứng hoàn toàn không đạt tối ưu nhất. Đối với nhóm đáp ứng không hoàn toàn (73,2%) được tiếp tục theo dõi và có 04 trường hợp tái phát lần 2.
Theo khuyến cáo Hiệp hội Tuyến giáp Mỹ và NCCN đối với hạch cổ tái phát/ tồn tại có kích thước > 5-8mm thì lựa chọn điều trị đầu tiên là nạo hạch, tiếp theo là điều trị I-131. Kết luận nghiên cứu của BS Võ Khắc Nbam là phẫu thuật và I-131 giúp giảm đáng kể Thyroglobulin máu sau điều trị hạch cổ tái phát/ tồn tại trong carcinôm tuyến giáp dạng nhú. Tuy nhiên, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn sau điều trị không cao có thể do điều trị I-131 chưa đủ lâu sau mổ.
Ngô Thanh