[Đăng ngày: 22/01/2016]
Tại Hội nghị khoa học Phòng chống Ung thư TP Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức tháng 12/2015, tác giả Nguyễn Thị Hương- Khoa Chống đau Bệnh viện K Hà Nội chia sẻ ghi nhận năm 2010, tỷ lệ mới mắc chung của mọi ung thư ở nam giới Việt Nam là 181.3/100.000 và nữ giới là 134,9/100.000; số liệu này tăng hơn so với năm 2000 là nam giới 141,6/100.000 và nữ giới là 101,6/100.000.
Thống kê cũng cho thấy những loại ung thư có tỷ lệ mới mắc tăng nhiều ở nam là ung thư phổi, ung thư thực quản, ung thư đại trực tràng và ung thư tuyến tiền liệt. Đối với nữ những loại ung thư có tỷ lệ mới mắc tăng nhiều là ung thư vú, ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung thư giáp trạng. Ước tính năm 2010 ở Việt Nam có ít nhất 126.000 trường hợp ung thư mới mắc cho cả hai giới, trong đó nam giới nhiều hơn với gần 72.000 trường hợp. Như vậy, tỷ lệ mắc ung thư ở Việt Nam đang có xu hướng tăng lên rõ rệt, trong đó hầu hết bệnh nhân đến viện ở giai đoạn muộn, nhiều bệnh nhân đã có tổn thương di căn ngoài u nguyên phát, di căn là một đặc tính cơ bản của ung thư.
BS.Nguyễn Thị Hương chia sẻ, cơ chế của ung thư di căn vào xương, các tế bào ung thư di căn bằng hai con đường chính là động mạch và tĩnh mạch, ngoài ra có thể di căn theo đường bạch huyết hoặc xâm lấn trực triếp, trong đó di căn theo đường tĩnh mạch là chủ yếu. Một số bệnh ung thư thường hay di căn đến xương như ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư phổi, ngoài ra có thể ung thư dạ dày, ung thư tụy, ung thư đại tràng. Tỷ lệ ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt di căn đến xương gặp 65-70%; ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng gặp khoảng 15-40%. Điều đáng chú ý là có tới 90% các trường hợp di căn xương gặp ở xương cột sống, xương chậu, đầu trên xương đùi, các xương sườn, đầu trên xương cánh tay…khi chẩn đoán thường đã là đa ổ di căn.
Đối với di căn của ung thư vào xương, đau xương là triệu chứng thường gặp nhất, là dấu hiệu gợi ý di căn xương nhưng không phải là triệu chứng đặc hiệu mà còn có thể gặp trong các nguyên nhân khác như lao xương, đa u tủy xương…Vì vậy để chẩn đoán di căn xương cần sử dụng phương pháp chụp X-quang qui ước; chụp CT hoặc MRI, chụp xạ hình xương toàn thân, trong đó chẩn đoán tế bào học, mô bệnh học là quyết định,là “tiêu chuẩn vàng” cuối cùng.
Di căn xương gây đau, hạn chế vận động, gãy xương, chèn ép tủy thậm chí gây liệt làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người bệnh. BS.Nguyễn Thị Hương đã báo cáo chuyên đề nghiên cứu có mục tiêu “ Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng tổn thương di căn xương ở bệnh nhân ung thư vú, phổi và tuyến tiền liệt”. Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2010-2012 tại Khoa Chống đau- Bệnh viện K Hà Nội.
Theo báo cáo BS.Nguyễn Thị Hương, trong 80 bệnh nhân nghiên cứu, ung thư phổi có 49 bệnh nhân; ung thư vú có 23 bệnh nhân và ung thư tuyến tiền liệt có 08 bệnh nhân. Tỷ lệ nam giới là 63,7% nhiều hơn so với nữ giới 36,3%. Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 56,6 tuổi, người tuổi lớn nhất là 83, tuổi nhỏ nhất là 26. Nhóm bệnh nhân ung thư phổi tuổi trung bình 54,2; nhóm ung thư vú tuổi trung bình 51,9 và nhóm ung thư tuyến tiền liệt tuổi trung bình 72,3.
Đánh giá chỉ số toàn trạng Karnopsky, giá trị trung bình là 71,1%, thấp nhất là 50% và cao nhất là 90%. Di căn xương không chỉ gây đau mà còn làm hạn chế hoặc mất khả năng vận động của người bệnh, do đó cản trở cuộc sống và sinh hoạt bình thường của người bệnh, vì vậy người bệnh phải phụ thuộc vào người thân và sự chăm sóc y tế. Cứ 10 bệnh nhân vào viện trong tình trạng chèn ép tủy sống tương ứng giới giá trị Karnopsky = 50%, người bệnh đau, hạn chế vận động kèm theo rối loạn cảm giác cơ tròn và cần được sự can thiệp tích cực của y tế. Tuy nhiên cũng có 10 bệnh nhân có chỉ số toàn trạng gần như bình thường, tình trạng di căn xương được phát hiện một cách tình cờ khi đi khám bệnh định kỳ.
Thời gian diễn tiến bệnh trung bình là 2,7 tháng, là một khoảng thời gian ngắn nói lên tính chất nặng nề của triệu chứng bệnh. Thậm chí có trường hợp người bệnh đến rất sớm ngay trong tuần đầu tiên có triệu chứng bệnh do di căn xương đã gây chèn ép tủy sống; ngược lại có bệnh nhân đến bệnh viện sau 20 tháng do các triệu chứng không gây các khó chịu đáng kể cho người bệnh. Đối với những bệnh nhân đến sớm được điều trị tích cực ngay bằng corticoid, xạ trị chống chèn ép tránh nguy cơ tổn thương tủy sống vĩnh viễn.
Đau từ những ổ di căn xương là dạng đau thường gặp nhất của đau ung thư. Triệu chứng đau thường bị trầm trọng thêm bởi tình trạng gãy xương, người bệnh mất vận động phần cơ thể tương ứng. Đối với chèn ép tủy sống, đây là triệu chứng lâm sàng nặng nề, là tình trạng cấp cứu, nếu để muộn sau 48 giờ khả năng hồi phục rất khó khăn. Trong nghiên cứu của tác giả có 10 trường hợp di căn xương gây chèn ép tủy sống, trong đó ung thư vú 02 trường hợp, ung thư phổi 07 trường hợp và 01 trường hợp ung thư tuyến tiền liệt.
Đối với đặc điểm cận lâm sàng, xạ hình xương toàn thân có độ nhạy rất cao trong phát hiện tổn thương di căn xương. Trong số 21 bệnh nhân chỉ được chụp X-quang qui ước, có 09 trường hợp phát hiện được tình trạng di căn xương; bỏ sót trên 50% các trường hợp ung thư di căn xương, vì vậy cần phối hợp thêm bằng chụp MRI, chụp xạ hình xương toàn thân.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số gặp các tổn thương hỗn hợp nhiều vị trí xương; tổn thương xương cột sống đơn thuần chiếm gần 25%; các vị trí xương dài, xương dẹt khoảng từ 6-15%. Nếu tính chung với di căn tổn thương hỗn hợp, tổn thương xương cột sống chiếm tỷ lệ gần 80%, đây là vị trí di căn xương phổ biến nhất.
Mai Trang
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 133

Số lượt truy cập: 9370028

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang