[Đăng ngày: 14/01/2016]
Tại Hội nghị khoa học phòng chống Ung thư thành phố Hồ Chí Minh thường niên lần thứ 18 được tổ chức vào tháng 12/2015, BS Nguyễn Đình Châu – Khoa Xạ trị và xạ phẫu – Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108 báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam được chẩn đoán ung thư amydal, hạ họng và thực quản 1/3 giữa. Bệnh nhân được chẩn đoán hóa – xạ đồng thời triệt căn cả ba tổn thương bằng kỹ thuật xạ trị điều biến liều, phác đồ hóa chất 5FU/Cisplatin. Sau kết thúc điều trị, bệnh đáp ứng hoàn toàn trên nội soi và PET/CT. Bệnh nhân khỏe mạnh, không thấy tái phát sau điều trị 5 tháng.
BS Nguyễn Xuân Kử - Bệnh viện K Hà Nội báo cáo đề tài “Một số tiến bộ về kỹ thuật xạ trị ung thư” nhấn mạnh hiện nay phương pháp xạ trị điều biến liều – IMRT, xạ trị dưới hướng dẫn của hình ảnh – IGRT, xạ trị cắt lớp – Tomotherapy và xạ trị đáp ứng sinh học – BioART đang được ứng dụng phổ biến tại nhiều Trung tâm ung thư trên thế giới. Xạ trị áp sát suất liều cao HDR cũng đã phát triển đến mức hoàn hảo.
Xạ trị dưới sự hướng dẫn của hình ảnh – IGRT (Image – Guided Radiation Therapy) là kỹ thuật sử dụng những hình ảnh 2 hoặc 3 chiều để hướng chùm tia bức xạ đúng với tọa độ thực của khối u đã được xác định trong lập kế hoạch. Nhờ vậy, phân bố liều hấp thụ tại thể tích bia (khối u) được đảm bảo, giảm thiểu được liều có hại cho các mô lành, nâng cao chất lượng và kết quả điều trị.
Mục đích của IGRT là chính xác trong phân bố của trường chiếu xạ và bảo vệ tối đa các tổ chức mô lành. Trước đây, điều trị thường chọn một thể tích đường biên rộng hơn nhằm bù trừ cho những sai số hình học, điều này gây tổn thương nhiều mô lành. Áp dụng IGRT liều hấp thu đối với các mô lành xung quanh đã được giảm đến tối thiểu và tăng liều bức xạ tại thể tích bia, qua đó làm tăng xác suất kiểm soát khối u. Về lợi ích lâm sàng, IGRT có khả năng đánh giá chất lượng xạ trị trên một bệnh nhân, trên quần thể bệnh nhân, tiếp tục củng cố hoàn thiện các kỹ thuật khác. Ngoài ra IGRT kiểm soát những thay đổi trên bệnh nhân, điều chỉnh kịp thời ngay trong quá trình điều trị ví dụ sự co xẹp hay phát triển to hơn, thay đổi hình dạng và thể tích khối u và cả những cấu trúc xung quanh liên quan.
Còn đối với xạ trị hình cung, điều biến liều theo thể tích – VMAT (Volumetric Modulated Arc Therapy), theo BS Nguyễn Xuân Kử đây là một chủ đề hết sức hấp dẫn, xạ trị hình cung, điều biến liều theo thể tích. Các hãng sản xuất đặt tên cho phương pháp này có khác nhau, ví dụ hãng Elekta là VMAT (Volumetric Modulated Arc Therapy), hãng Varian dùng khái niệm RapiArc; hãng Siemens sử dụng là Cone-Beam-Therapy (CBT). Hệ thống phần mềm giữa các hãng có đôi chút khác nhau nhưng nguyên tắc chung là như nhau.
VMAT sử dụng phương pháp phát chùm tia liên tục khi quay thân máy qua một hay nhiều cung. Trong khi quay như vậy, rất nhiều thông số kỹ thuật được điều chỉnh và thay đổi. Chẳng hạn với hệ MLC chuyển động, tạo hình dạng chùm tia; suất liều máy “dose rate” thay đổi liên tục; tốc độ quay của thân máy; góc nghiêng của hệ MLC cũng thay đổi. Việc sử dụng qua nhiều cung phát tia tạo ra số lượng lớn các trường chiếu tương ứng; tạo ra sự phân bố liều theo hình dạng khối u với độ chính xác cao. Kỹ thuật VMAT là kỹ thuật hết sức có giá trị và vượt trội vì nếu sử dụng VMAT không điều biến vẫn tạo được trường chiếu với sự phân bố tương đương về liều lượng đến khối u, BS Kử nhấn mạnh.
Kỹ thuật xạ trị đáp ứng sinh học – BioART (Biological Adaptive Radiation Therapy). Theo BS Nguyễn Xuân Kử, mục đích của xạ trị là đưa được một liều lượng đồng đều xạ trị đến khối u mặc dù khối u có sự khác nhau về yếu tố sinh lý, yếu tố tế bào đồng thời sự đáp ứng tia xạ cần phải được xem xét. Với xạ trị đáp ứng sinh học – BioART là phương pháp áp dụng kỹ thuật điều chỉnh sự phân bố liều bức xạ tại từng vùng thể tích của khối u tùy theo sự khác nhau về mức độ nhạy của tia xạ, sự thiếu oxy của tế bào, v.v…
Nhờ sự phát triển kỹ thuật hình ảnh hiện đại của cộng hưởng từ (MRI); cộng hưởng từ phổ ký (MRSi); chụp cắt lớp bằng đồng vị phát positron (PET) đã giúp cung cấp thông tin trung thực giúp cho việc điều chỉnh, tăng giảm cường độ nhằm tối ưu hóa sự phân bố liều bức xạ phù hợp với hình thái khối u. Đồng thời tăng cường khả năng kiểm soát khối u (Tumour control probability – TCP) bằng cách tăng liều lượng đối với những vùng khối u giảm hoặc thiếu oxy. Theo BS Kử, việc điều chỉnh sự phân bố liều lượng là rất khả thi với những kỹ thuật hiện đại như xạ trị điều biến liều – IMRT, xạ trị áp sát 3D suất liều cao (3D-HDR).
Cũng theo BS Kử, gần đây khoa học đang rất quan tâm đến việc làm cách nào để sử dụng những thông tin về sinh học đặc trưng của khối u và tính chất của các mô lành để áp dụng kỹ thuật xạ trị riêng biệt cho từng người bệnh. Lúc đó liều bức xạ có thể tăng lên tại những vùng kháng tia. Vì trong quá trình điều trị, tính chất sinh học của các tế bào khối u và tế bào lành có thể thay đổi, do đó việc điều chỉnh kỹ thuật, liều lượng sẽ là cần thiết để đảm bảo rằng sự phân bố liều lượng là tối ưu. Thu thập đầy đủ thông tin sẽ giúp cho việc điều chỉnh cho mỗi bệnh nhân trong phần còn lại của thời gian chiếu xạ.
Một số công trình nghiên cứu gần đây về những thay đổi thuộc tính sinh học xảy ra trong quá trình chiếu xạ đã được nêu ra nhằm đánh giá mức độ đáp ứng với các tế bào lành và tế bào u qua đó giúp tiên lượng kết quả điều trị trên người bệnh. Vấn đề đang thảo luận là tiêu chuẩn đánh giá sự đáp ứng tia xạ để điều chỉnh liều lượng và cách điều chỉnh như thế nào là hợp lý nhất, BS Nguyễn Xuân Kử nhấn mạnh.
  Thanh Tùng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 149

Số lượt truy cập: 9370067

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang