
Theo GS.TS Nguyễn Chấn Hùng- Chủ tịch Hội Phòng chống Ung thư Việt Nam- hiện nay hơn phân nửa số người bệnh ung thư được điều trị tốt nhờ xạ trị dùng riêng lẻ hoặc phối hợp với các phương pháp khác.
Xạ trị là dùng chùm tia phóng xạ để tàn phá các tế bào ung thư. Các tia phóng xạ giết chết tế bào bằng cách gây tổn thương các gen nằm trong phân tử DNA của nhân tế bào. Khi chiếu tia vài tế bào chết ngay, còn phần lớn chết khi bước vào chu kỳ sinh sôi. Xạ trị có thể tiêu diệt ung thư bằng hai cách, một là giết các tế bào ung thư cấu tạo khối bướu, hai là làm hư hại các mạch máu nuôi khối bướu. Người ta tính toán sao cho khi chiếu tia vào khối bướu bằng những quy luật sinh học và vật lý để phá hủy được các tế bào ung thư nhiều nhất mà ít gây thiệt hại nhất cho mô lành lân cận. Các tia phóng xạ này là các bức xạ cao thế: các tia X siêu thế, các protôn siêu thế, các tia gamma của các chất phóng xạ tự nhiên (radium) hoặc các loại ion hóa.
Các kiểu xạ trị gồm xạ trị ngoài, xạ trị trong, xạ trị mô, xạ trị chuyển hóa. Xạ trị ngoài thường sử dụng nhất, nguồn tia bên ngoài, chiếu xuyên qua da, người bệnh được đặt nằm hoặc ngồi trong vùng tỏa của chùm tia.
Tại Hội nghị khoa học Phòng chống Ung thư TP Hồ Chí Minh lần thứ 18 tổ chức vào tháng 12/2015, kỹ thuật viên Nguyễn Văn Nam cùng cộng sự Trung tâm Xạ trị- Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec báo cáo nghiên cứu “Đánh giá sai số setup bệnh nhân xạ trị ở các vị trí khác nhau bằng hệ thống OBI”.
Theo chia sẻ của kỹ thuật viên Nguyễn Văn Nam, kiểm soát sai số setup bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát phân bố liều vào khối u, giảm ảnh hưởng của tia xạ lên các mô lành, nâng cao hiệu quả lâm sàng điều trị cho người bệnh ung thư. Để kiểm soát sai số setup bệnh nhân, thiết bị thu nhận hình ảnh điện tử (Elactric Portal Image Device- EPID) chụp ảnh 2D-MV so sánh với ảnh DRR (Digital Recontructeded Radiography) dựa trên các mốc giải phẫu hoặc điểm đánh dấu để hiệu chỉnh chính xác vị trí bệnh nhân trước khi chiếu xạ.
Nghiên cứu được thực hiện trên 30 đối tượng nghiên cứu ung thư ở 03 vùng khác nhau: đầu- cổ, ngực- bụng và tiểu khung; các đối tượng nghiên cứu được chỉ định xạ trị; thời gian nghiên cứu từ tháng 1 đến tháng 8/2015. Tất cả bệnh nhân được đặt tư thế nằm ngửa trên bàn điều trị và được cố định sử dụng các dụng cụ cố định theo tiêu chuẩn của Q-fix ở từng vị trí khối u.
Đối với máy gia tốc xạ trị Clinac iX bao gồm hệ thống hướng dẫn hình ảnh OBI (Varian Medical Systems, Palo Alto, CA) Hệ thống dụng cụ cố định gồm gối kê đầu, mặt nạ cố định 3 điểm vùng đầu- cổ; bàn cố định ngực và vú; bàn cố định vùng tiểu khung.
Phương pháp nghiên cứu mô tả đánh giá từng trường hợp setup bệnh nhân trước xạ trị hàng ngày sử dụng hệ thống định vị hình ảnh OBI. Tiến hành setup bệnh nhân và sử dụng các hệ thống dụng cụ cố định theo tiêu chuẩn từng vùng điều trị. Thực hiện thu nhận hình ảnh 2D-KV, phân tích sai số setup online trên phần mềm OBI trước khi điều trị. Kết quả sai số setup theo 3 chiều X,Y,Z sẽ được chấp nhận điều trị ngay nếu < 3mm ( kỹ thuật VMAT) và < 5 mm (kỹ thuật 3D-CRT).
Kết quả nghiên cứu cho thấy có tổng số 488 lần chụp 2D-KV được thực hiện trên 30 bệnh nhân. Tần số setup sai số < 3mm trên trục X, Y, Z đối với bệnh nhân điều trị vùng đầu, cổ chiếm 97,1%. Tần số setup sai số < 5mm vùng ngực bụng là 87,7% theo trục X; 72,1% theo trục Y và 83,6% theo trục Z. Vùng tiểu khung tần số setup sai số < 5mm là 93,9% theo trục X, trục Y là 93,3% và trục Z là 86,6%.
Theo phân tích của kỹ sư Nguyễn Văn Nam, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến những sai số trong setup như: sai số hệ thống gồm sai số cơ khí, lazer, thiết bị, dụng cụ cố định; sai số ngẫu nhiên do kỹ thuật viên, yếu tố di động của bệnh nhân, yếu tố về tuổi tác, yếu tố về giới tính, vùng điều trị…Tất cả những yếu tố này nếu không được kiểm soát tốt sẽ gây ra tác động cộng gộp sai số làm tăng sai số setup bệnh nhân lên rất lớn. Do đó đòi hỏi người kỹ thuật viên cần có biện pháp kiểm soát các sai số hàng ngày.
Kỹ sư Nguyễn Văn Nam cũng lưu lý những giải pháp kiểm soát sai số cụ thể như: kiểm soát sai số setup vùng đầu- cổ là vị trí có di động trong và ngoài các cơ quan ít cho nên việc kiểm soát sai số setup trước điều trị tốt và ổn định trong toàn bộ quá trình xạ trị. Để khắc phục những sai số khi không sử dụng hệ thống hướng dẫn hình ảnh cũng như không được trang bị mặt nạ cần có xăm hoặc đánh dấu mốc thêm tại hõm ức tránh được sai số theo trục Lat. Sử dụng thước đo sự cân bằng của hai vai, độ cao thấp của cằm so với hõm ức.
Đối với vùng ngực- bụng, đây là vị trí mà các cơ quan có sự di động lớn nhất cả bên trong và bên ngoài, nên việc kiểm soát sai số setup càng phải chặt chẽ. Cần sử dụng dấu mốc cố định trên bàn điều trị tương ứng với vị trí của dấu xăm hoặc đánh dấu ở hai bên người của bệnh nhân nhằm tránh được sai số theo trục Long. Đánh dấu hai điểm xăm tham chiếu trên chính giữa người của bệnh nhân tránh sai số trục Lat. Sử dụng băng, dải ép, dặn người bệnh thở nhẹ nhàng tránh sai số trục Vert.
Đối với vùng tiểu khung vị trí cơ quan bên trong cũng có sự di động lớn, cần sử dụng dấu mốc cố định vị trí trên bàn điều trị tương ứng với dấu xăm hai bên người bệnh nhân tránh sai số trục Long; dặn bệnh nhân thở nhẹ nhàng hoặc dùng dải băng ép để cố định di động do nhịp thở của bụng nhằm tránh di động cơ quan bên trong. Cuối cùng dặn người bệnh uống nước hàng ngày trước khi xạ trị cho đến khi bàng quang đầy để tránh sai số do thay đổi thể tích của bàng quang.
Anh Huy