[Đăng ngày: 12/01/2016]
Ung thư tế bào gan là ung thư nguyên phát của gan. Đáng mừng là chúng ta có thể phòng tránh được bệnh. Ở Việt Nam ung thư gan là loại thường gặp nhất.
Những người bị viêm gan virut B hoặc viêm gan virut C; trong gia đình có người bị ung thư gan, người nghiện rượu nên tầm soát, rà tìm ung thư qua siêu âm, xét nghiệm máu tìm Alpha- Fetoprotein (AFP). Trong điều trị ung thư gan mổ được là tốt. Hai yếu tố quan trọng bác sĩ cân nhắc khi điều trị là kích thước của khối bướu và gan có bị xơ không. Khi bệnh nhân còn ở thời kỳ sớm, phần gan lành còn tốt có thể mổ được và điều trị tốt. Nếu qua ngưỡng sống còn 5 năm cơ may khỏi bệnh là khá lớn. Hiện nay, các biện pháp cắt gan toàn phần, ghép gan làm tăng thêm cơ hội điều trị cho người bệnh. Có nhiều phương pháp điều trị đối với ung thư gan như phẫu trị, xạ trị, hóa trị và liệu pháp nhắm trúng đích. Đối với phẫu thuật cắt gan một phần, cắt gan toàn phần và ghép gan, phá hủy bướu bằng sóng radio, phẫu thuật đông lạnh. Xạ trị gồm xạ trị ngoài, xạ trị trong, các kháng thể mang phóng xạ. Hóa trị gồm hóa trị toàn thân, hóa trị vùng, TOCE, tiêm cồn dưới da. Còn đối với liệu pháp nhắm trúng đích có sorafenib dành cho ung thư gan không còn cắt được. Nếu bệnh còn khu trú tại chỗ, tỷ lệ sống còn 5 năm khoảng 30%, nếu đã di căn xa tỷ lệ này giảm chỉ còn 5%.
Theo GS.TS Nguyễn Chấn Hùng- Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam- nguyên nhân gây ra ung thư gan là do viêm gan virut B, viêm gan virut C bắt tay với rượu, alflatoxin tàn phá lá gan. Viêm gan virut B, C lây qua đường máu, đường quan hệ tình dục và mẹ truyền sang con. Nhiễm chất độc aflatoxin do ăn loại nấm mốc aspergillus flavus trong các loại hạt ẩm mốc như đậu phộng, bắp, gạo. Aflatoxin làm gan nhiễm mỡ, xơ gan và ung thư gan. Aflatoxin cộng với nhiễm viêm gan virut B sẽ tăng nguy cơ ung thư gan lên 60 lần so với chỉ nhiễm viêm gan virut B riêng lẻ.
Gan cũng bị tổn thương do uống rượu nhiều, lâu dài. Mới đầu là gan nhiễm mỡ, đến viêm gan, xơ gan, nếu có virut viêm gan C tấn công gây bệnh nặng nề hơn. Hiện nay đã có thuốc điều trị bệnh viên gan virut B, C. Mọi người cần có biện pháp dự phòng tránh lây nhiễm viêm gan virut B, virut C. Tiêm chủng viêm gan virut B cho mọi lứa tuổi, đối với viêm gan virut C hiện nay chưa có vắc xin.
Tại Hội nghị khoa học phòng chống ung thư TP Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức tháng 12/2015, PGS.TS Bùi Diệu- Giám đốc Bệnh viện K Hà Nội- cùng các cộng sự báo cáo “Nghiên cứu một số đặc điểm của ung thư gan nguyên phát”.
Nghiên cứu được thực hiện trên 2.193 trường hợp được chẩn đoán và điều trị ung thư gan nguyên phát tại Bệnh viện K Hà Nội trong 10 năm từ 2005-2014. Trong đó có 1.728 đối tượng nghiên cứu là nam chiếm tỷ lệ 78,8%; nữ giới chiếm 21,2%. Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất đối với cả nam và nữ là > 50-59 tuổi là 30,1%. Tiếp đến là nhóm 60-69 tuổi chiếm tỷ lệ 27%. Nếu tính từ độ tuổi 40 trở lên chiếm tỷ lệ 92,7%. Tuổi trung bình qua theo dõi 10 năm là 54,8 tuổi.
Đối với thông tin về tiền sử cho thấy 16,5% có tiền sử viêm gan; 32% nghiện rượu (uống hơn 4 đơn vị chuẩn ngày và uống rượu > 5 ngày/tuần). Có một đặc điểm là 72% có bị sốt rét trong thời gian quân ngũ.
Theo PGS.TS Bùi Diệu chia sẻ, nam giới mắc ung thư gan nguyên phát cao hơn so với nữ giới, có một số nghiên cứu chỉ ra hormon androgen ở nam giới tạo thuận lợi cho sự phát triển u gan, trong khi ostrogen ở nữ giới lại có tác dụng bảo vệ gan. Qua theo dõi 10 năm, ung thư gan thường có biểu hiện ban đầu mệt mỏi, chán ăn, sụt cân, đau tức hạ sườn phải nhưng ít bệnh nhân để ý. Trên siêu âm vị trí khối u ở gan trái là 336 trường hợp chiếm tỷ lệ 15,3%; đối với vị trí khối u ở gan phải chiếm tỷ lệ 76% gấp 5 lần so với vị trí u ở gan trái, khối u ở cả hai vị trí trái và phải của gan có tỷ lệ là 8,7%.
Đối với số lượng khối u, nhiều nhất là một khối u với tỷ lệ 75,5%; trường hợp có hai khối u chiếm tỷ lệ 17,7%; từ ba khối u gan trở lên chiếm 6,8%. Có 673 trường hợp (30,7%) khối u có kích thước lớn hơn 6-9cm; khối u có kích thước lớn hơn từ 9-12 cm, chiếm gần 21%. Nếu tính khối u > 3 cm chiếm tỷ lệ gần 92%.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 80,5% trường hợp kết quả xét nghiệm HbsAg (+); giá trị trung bình của xét nghiệm AFP + 2 SD là 260,8 + 556,9 ng/ml. Trong đó, mức AFP > 100 ng/ml chiếm 51,7%. Ở giới hạn > 20-100 ng/ml chiếm tỷ lệ 25,7%. Còn AFP < 20 ng/ml có tỷ lệ là 22,6%. Theo các nghiên cứu trong và ngoài nước có khoảng 20% u gan không tổng hợp AFP kể cả khi u lớn, nếu xét nghiệm AFP âm tính cũng không loại trừ được ung thư gan nguyên phát. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 95,6% đối tượng nghiên cứu là ung thư biểu mô tế bào gan.
Theo chia sẻ của PGS.TS Bùi Diệu năm 2012 trên toàn thế giới có trên 782 nghìn ca mới mắc và 746 nghìn trường hợp tử vong do ung thư gan được ghi nhận. Tỷ lệ mắc bệnh ung thư gan nguyên phát thay đổi tùy theo địa dư, vùng có tỷ lệ mắc mới cao nhất là Đông và Đông Nam Á. Tại Việt Nam  theo ghi nhận số liệu năm 2010; các tỉnh, thành phố phía Nam có tỷ lệ mới mắc ung thư gan cao hơn các tỉnh, thành phố phía Bắc.
Văn Hanh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 136

Số lượt truy cập: 9370110

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang