
Tại Việt Nam, ung thư vòm hầu (vòm họng) đứng hàng thứ năm trong các bệnh ung thư thường gặp ở nam giới. Khoảng tuổi thường gặp từ 30-50.
Ung thư vòm hầu giai đoạn sớm thường không có triệu chứng, khi lớn nhiều xâm lấn vùng lân cận làm bít hốc mũi gây nghẹt mũi và chảy máu mũi một bên, chèn nghẹt vòi Eustache làm ù tai, không nghe rõ, ăn vào đáy sọ gây nhức đầu, sụp mi, mắt lé. Hạch hai bên cổ to lên do ung thư lan tràn theo đường lympho. Theo đường máu ung thư di căn xa đến xương, phổi, gan.
Ung thư vòm hầu có nhiều đặc điểm riêng biệt về dịch tễ, bệnh sinh và mô bệnh học. Xạ trị kết hợp hóa trị trong giai đoạn bệnh tiến triển tại chỗ, tại vùng là phương pháp điều trị chính hiện nay.
Tại Hội nghị Khoa học phòng chống ung thư Tp. Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức tháng 12/2015, nhóm nghiên cứu Hoàng Đào Chinh, Lê Ngọc Hà cùng cộng sự Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 báo cáo đề tài “So sánh giá trị của MRI và 18 FDG – PET/CT trong đánh giá u nguyên phát ung thư vòm hầu”.
Nghiên cứu đã thực hiện trên 17 trường hợp mới được chẩn đoán ung thư vòm hầu giai đoạn 2 đến giai đoạn 4, từ tháng 8/2014 đến tháng 8/2015 tại Khoa xạ trị - Xạ phẫu Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đối với chụp MRI các bệnh nhân được thực hiện trên máy cộng hưởng từ hạt nhân 1.5 Telsa, các chuỗi xung đánh giá xâm lấn xương nền sọ và mô mỡ khoang cạnh hầu (T1); bổ sung đánh giá khoang cạnh hầu, xâm lấn xoang, ứ dịch tai giữa và hạch cổ (T2), độ dày lát cắt từ 3-5mm.
Đối với chụp 18FDG-PET/CT toàn thân và PET/CT đầu-cổ, bệnh nhân nhịn ăn sáng, nồng độ glucose máu trong giới hạn bình thường. Sau tiêm 18FDG với liều 0,14 – 0,2mCi/kg 60 phút, bệnh nhân được chụp PET/CT. Các giá trị hấp thu chuẩn (SUV) là các giá trị tối đa tại vùng quan tâm và tính bằng đơn vị g/ml.
Theo BS. Hoàng Đạo Chinh phân tích tổn thương u nguyên phát được đánh giá theo AJCC2010 tại các vị trí xâm lấn:
T1: Vòm hầu, miệng hầu, cửa mũi sau và hốc mũi.
T2: Khoang cạnh hầu, khoang cảnh, cơ đầu dài và cơ cổ dài, khoang trước sống.
T3: Xương nền sọ, hệ thống xoang hàm, bướm, sàng và xoang trán, hố chân bướm, khẩu cái, lỗ nền sọ.
T4: Xoang tĩnh mạch hang, hang Merkel, màng não, xâm lấn thần kinh, ổ mắt, khoang cơ nhai, hố dưới thái dương, hạ họng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi đối tượng nghiên cứu trẻ nhất là 30, lớn tuổi nhất là 64 tuổi. Có 13 nam, 04 nữ, tất cả 17 đối tượng nghiên cứu đều được thực hiện giải phẫu bệnh ung thư biểu mô không biệt hóa; về phân chia giai đoạn có 02 trường hợp T1; 01 trường hợp T2; 08 trường hợp T3 và 06 trường hợp T4.
Trên 12 trường hợp, MRI phát hiện thêm tổn thương so với PET/CT ở 13 vị trí và chỉ ra phạm vi xâm lấn lớn hơn 14 vị trí bao gồm vòm hầu, xương nền sọ, hố chân bướm khẩu cái, lỗ thần kinh hạ thiệt, nội sọ, ổ mắt, khoang cơ nhai. Khi so sánh với kết quả chẩn đoán giai đoạn u nguyên phát theo MRI, 18FDG-PET/CT làm giảm giai đoạn u nguyên phát ở 04 trường hợp; cụ thể 01 trường hợp T4 xuống T3; 02 trường hợp T3 xuống T2 và 01 trường hợp T3 xuống T1.
Theo BS. Hoàng Đào Chinh 18FDG-PET/CT là phương pháp ngày càng có giá trị trong chẩn đoán di căn hạch, di căn xa, lập kế hoạch xạ trị, tiên lượng bệnh và đánh giá sau điều trị ung thư vòm hầu. Tuy nhiên, 18DFG-PET/CT có hạn chế trong phát hiện các tổn thương vùng nền sọ do não cũng tăng bắt giữ FDG sinh lý hoặc khi mật độ tế bào ung thư thấp trong thể tích u nhỏ.
MRI có ưu điểm có độ phân giải cao cho phép phân biệt rõ các tổ chức phần mềm vẫn có vai trò quan trọng nhất trong đánh giá u nguyên phát của ung thư vòm họng, đặc biệt là xâm lấn tủy xương ở nền sọ và xâm lấn thần kinh.
Mặc dù khó xác định mô bệnh học các tổn thương xương vùng nền sọ, MRI hiện vẫn được ưu tiên lựa chọn để đánh giá giai đoạn T và xác định thể tích u nguyên phát trong lập kế hoạch xạ trị điều biến liều.
Trong nghiên cứu của BS. Hoàng Đạo Chinh, kết quả MRI cho thấy sự khác biệt so với 18FDG-PET/CT ở 28 vị trí gồm vòm hầu, xương nền sọ, hố chân bướm khẩu cái, lỗ thần kinh hạ thiệt, nội sọ, ổ mắt, khoang cơ nhai. Sự khác biệt phần lớn ở xương nền sọ, chiếm tỷ lệ gần 65% đối tượng nghiên cứu.
Xét nghiệm 18FDG-PET/CT chỉ phát hiện 1 tổn thương tại vùng cạnh hầu mà MRI không phát hiện được.
BS. Hoàng Đạo Chinh đã có kết luận nghiên cứu là có sự tương xứng giữa MRI và 18FDG-PET/CT trong đánh giá giai đoạn u nguyên phát ung thư vòm hầu. MRI phát hiện nhiều tổn thương hơn so với 18FDG-PET/CT trong giai đoạn T3-T4, đặc biệt là tổn thương xâm lấn xương nền sọ. Tác giả nghiên cứu kiến nghị nên sử dụng MRI trong đánh giá giai đoạn u nguyên phát và lập kế hoạch xạ trị ung thư vòm hầu.
Minh Tâm