
Từ tháng 4/2015 đến tháng 10/2015, BS Trần Bá Hoàng đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại thành phố Cam Ranh năm 2015”.
Đối tượng nghiên cứu là trẻ em dưới 60 tháng tuổi đang sống tại thành phố Cam Ranh tại thời điểm nghiên cứu và bà mẹ hoặc người nuôi dưỡng chính ở trẻ. Tiêu chuẩn lựa chọn là trẻ em dưới 60 tháng tuổi không mắc các bệnh cấp tính được đồng ý của mẹ hoặc người nuôi dưỡng cho phép đo các chỉ số nhân trắc. Bà mẹ hoặc người nuôi dưỡng chính không mắc các bệnh tâm thần hoặc không bị hạn chế về giao tiếp và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Có 50% số xã phường của thành phố Cam Ranh được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, kết quả có Cam Thịnh Tây, Cam Phước Đông, Cam Phúc Bắc, Cam Thành Nam, Cam Lập, Cam Thuận, Cam Linh và Ba Ngòi được chọn; tổng số trẻ là 254, trong đó có 52% là trẻ trai, nhiều hơn so với trẻ gái (48%). Nhóm tuổi mẹ từ 18-35 chiếm 79,1%; trên 35 tuổi chiếm 20,1%. Nghề nghiệp nhiều nhất làm nông (26,2%) gấp đôi so với nhóm nghề nghiệp công nhân (13,5%). Kinh doanh buôn bán và nhóm cán bộ viên chức gần bằng nhau (10%). Có gần 94% mẹ của trẻ đang sống cùng với chồng. Trình độ học vấn Trung học cơ sở chiếm 45,3%; tiểu học và trung học phổ thông bằng nhau với 19%; không biết chữ chiếm 5,3%. Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ 88,8%, dân tộc thiểu số chiếm 11,2%. Kinh tế hộ gia đình diện nghèo chiếm 9,1%; cận nghèo chiếm 13,1%; kinh tế hộ trung bình chiếm 74%.
Theo BS Hoàng, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi của thành phố Cam Ranh điều tra năm 2015 là 7,48%. Ba Ngòi là phường có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân thấp nhất (2,9%), phản ánh đúng mức sống và sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương này. Tương tự như vậy, do đời sống kinh tế ở Cam Thịnh tây và Cam Phước Đông còn nhiều khó khăn, hộ nghèo, đói còn cao đã dẫn đến tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của xã này cao nhất trong cả thành phố (16,6% và 9,37%).
Phân tích tỷ lệ suy dinh dưỡng theo dân tộc, so sánh giữa người Kinh (dân tộc đa số) và các dân tộc thiểu số, kết quả cho thấy sự khác biệt rất rõ và có ý nghĩa thống kê về các tỷ lệ này giữa 2 dân tộc trên cả 3 chỉ số: cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em người dân tộc thiểu số cao gấp 3-5 lần người Kinh.
Về mối liên quan giữa suy dinh dưỡng với các yếu tố kinh tế xã hội văn hóa, theo BS Hoàng phân tích kiến thức của các bà mẹ và người nuôi dưỡng trong lĩnh vực này cho thấy còn khá hạn chế. Có gần ¼ các bà mẹ cho rằng có thể cho trẻ ăn dặm lúc trẻ được 4 tháng tuổi và chỉ có hơn 14,5% các bà mẹ cho rằng trẻ ăn dặm sau 6 tháng tuổi. Kết quả này cho thấy cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông về thực hành dinh dưỡng, nhấn mạnh đến thực hành ăn bổ sung.
Kết quả khảo sát thực hành dinh dưỡng cho trẻ khi trẻ ốm cũng cho thấy sự hạn chế về kiến thức của bà mẹ và người nuôi dưỡng trong thực hành dinh dưỡng cho trẻ khi trẻ bị ốm. Quan niệm về kiêng cử “thức ăn tanh”, cho uống nước gạo rang hoặc chỉ cho ăn cháo trắng khi trẻ bị tiêu chảy là những quan niệm cần phải được truyền thông mạnh mẽ cho các bà mẹ.
BS Hoàng cũng báo cáo nguy cơ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của đối tượng nghiên cứu có cân nặng lúc sinh < 2.500g cao gấp hơn 7 lần so với trẻ có cân nặng lúc sinh từ 2.500g trở lên. Về nghề nghiệp của mẹ có liên quan ý nghĩa thống kê với tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ. Tùy theo tính chất lao động, nghề nghiệp được phân thành 2 nhóm: lao động chân tay và không lao động chân tay. Kết quả phân tích đã cho thấy ở nhóm các bà mẹ lao động chân tay, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Trong đó, nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ em < 5 tuổi của các bà mẹ lao động chân tay cao hơn 2 lần so với các bà mẹ không lao động chân tay. Mối liên quan này có lẽ bắt nguồn trực tiếp từ điều kiện kinh tế hộ gia đình.
Trình độ học vấn của mẹ có liên quan khá chặt chẽ và có ý nghĩa với tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ rất cao ở những gia đình có mẹ có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống 69,7%. Phân tích xu hướng tương tự đối với kinh tế hộ gia đình cũng cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ suy dinh dưỡng trong các nhóm kinh tế hộ gia đình giàu và nghèo (p < 0,01).
BS Trần Bá Hoàng đã có những khuyến nghị cụ thể cho nghiên cứu là cần có giải pháp để cải thiện tình trạng trẻ sơ sinh nhẹ cân (cân nặng lúc sinh thấp hơn 2.500g); cải thiện tình trạng thể lực mẹ (BMI). Hai giải pháp này đều có chung một kế hoạch hành động là cải thiện dinh dưỡng cho bà mẹ trước, trong và sau khi sinh bằng cách thực hành dinh dưỡng đúng, đầy đủ. Kế hoạch hành động này cần dựa trên một nền tảng kinh tế ổn định trên cơ sở an ninh lương thực được đảm bảo. Về chính sách và các yếu tố kinh tế xã hội, cần nâng cao trình độ học vấn của mẹ nói riêng và của cộng đồng nói chung. Đây là giải pháp mang tính lâu dài, liên quan đến các chính sách an sinh xã hội, giáo dục và bình đẳng giới. Tiếp tục thực hiện chính sách gia đình ít con. Nghiên cứu này cho thấy số con trong gia đình có ảnh hưởng ý nghĩa đến tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ. Do đó, tiếp tục thực hiện chính sách gia đình ít con sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi. Về giáo dục, truyền thông, cần thực hiện các hoạt động giáo dục truyền thông về nuôi con bằng sữa mẹ và thực hành ăn bổ sung cho nhóm đối tượng là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và người nuôi dưỡng chính trong gia đình. Tổ chức các hoạt động truyền thông trực tiếp về phương pháp chế biến, chuẩn bị thức ăn cho trẻ nhằm thay đổi hành vi về thực hành dinh dưỡng hộ gia đình./.
Văn Hanh