
Hội chứng ống cổ tay gây ra bởi sự chèn ép dây thần kinh giữa đoạn qua ống cổ tay.
Hội chứng ống cổ tay biểu hiện bằng các rối loạn cảm giác như tê bì, dị cảm, và đau, đau như kim châm, bỏng buốt đầu ngón tay một, hai, ba, và nửa ngoài ngón bốn. Đau thường tăng về đêm làm cho bệnh nhân thức giấc và phải xoay lắc cổ tay để đỡ đau. Giai đoạn muộn biểu hiện hạn chế vận động cổ tay và bàn tay, bệnh nhân gặp khó khăn khi thực hiện động tác gấp cổ tay như gài cúc áo, cầm nắm các vật nhỏ. Nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời bệnh có thể tiến triển đến giai đoạn nặng hơn biểu hiện bằng teo cơ, thường là teo cơ ô mô cái. Chẩn đoán điện sinh lý là một phương pháp hữu hiệu, có độ nhạy, độ đặc hiệu khá cao trong chẩn đoán hội chứng ống cổ tay, thường được áp dụng để đánh giá các rối loạn nghẽn dẫn truyền thần kinh giữa, khảo sát các tổn thương thần kinh ngoại vi như thoái hóa thần kinh dạng hủy myelin, thoái hóa sợi trục, vì thế ở giai đoạn đầu của chèn ép thần kinh giữa gây phù nề hoặc những giai đoạn sau khi có tổn thương thực thể ở sợi thần kinh, khảo sát thời gian tìm cảm giác và vận động sẽ giúp đánh giá được mức độ tổn thương của bệnh.
Từ tháng 3-7/2015, nhóm nghiên cứu gồm Bùi Thị Ngọc, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Văn Liệu Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Bạch Mai, Viện châm cứu Trung ương đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Mối tương quan giữa các biểu hiện lâm sàng và mức độ thay đổi điện sinh lý ở bệnh nhân mắc hội chứng ống cổ tay”.
Nghiên cứu nhằm vào 2 mục tiêu: (1) Đánh giá các biểu hiện lâm sàng và điện sinh lý trên bệnh nhân mắc hội chứng ống cổ tay; (2) Xác định mối tương quan giữa các biểu hiện lâm sàng và mức độ thay đổi điện sinh lý ở những bệnh nhân này.
Theo báo cáo của tác giả nghiên cứu Bùi Thị Ngọc, nghiên cứu được tiến hành trên 84 bệnh nhân được chẩn đoán mắc Hội chứng ống cổ tay; tiêu chuẩn loại trừ là bệnh nhân có tổn thương dây thần kinh giữa ngoài khu vực ống cổ tay; Có tổn thương dây thần kinh trụ; Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật, điều trị hội chứng ống cổ tay.
Phương pháp nghiên cứu được tiến hành hỏi bệnh, khai thác triệu chứng cơ năng theo mẫu bệnh án, bệnh nhân có biểu hiện rối loạn cảm giác như tê bì, bỏng rát, cảm giác kim châm, kiến bò ở bàn tay không? Có xuất hiện đau không, vị trí đau, mức độ đau, đau về đêm. Khám bệnh, khám xúc giác, đánh giá triệu chứng rối loạn cảm giác, khám cảm giác nhiệt, khám đánh giá cảm giác đau; Khám đánh giá hạn chế vận động, teo cơ; Làm nghiệm pháp Tinnel, Phalen. Về khảo sát dẫn truyền thần kinh giữa sử dụng thiết bị nghiên cứu, tiến hành ghi điện thế kích thích bằng máy ghi điện thần kinh cơ bằng máy Nihon Kohnden của Nhật Bản. Các chỉ số nghiên cứu gồm: DMLm: Thời gian tiềm tàng vận động ngoại vi thần kinh giữa; DSLm: Thời gian tiềm tàng cảm giác ngoại vi dây thần kinh giữa; DMLd: Hiệu thời gian tiềm tàng vận động ngoại vi dây thần kinh giữa và trụ; DSLd: Hiệu thời gian tiềm tàng cảm giác ngoại vi dây thần kinh giữa và trụ. Kỹ thuật tiến hành theo tiêu chuẩn của hội điện cơ Hoa Kỳ: Đo dẫn truyền vận động dựa theo tiêu chuẩn của hội điện cơ Hoa Kỳ.
Báo cáo của nhóm nghiên cứu cho thấy, có 84 bệnh nhân tham gia nghiên cứu với 136 bàn tay được chẩn đoán mắc hội chứng ống cổ tay, trong đó có 69 nữ, 15 nam. Tuổi trung bình là 48,46 tuổi. Về đặc điểm lâm sàng của nhóm đối tượng nghiên cứu triệu chứng lâm sàng chủ yếu là tê bì, dị cảm chiếm 95,5%, đau chiếm tỷ lệ khá cao gặp ở 53,7% bàn tay. Bàn tay có hạn chế vận động và teo cơ gặp tương ứng là 23,5% và 16,2%. Dấu hiệu Tinel và Phalen (+) chiếm tỷ lệ tương đương khoảng 50%.
Đối với phân độ mức thay đổi điện sinh lý trên nhóm bệnh nhân, phân độ giá trị điện sinh lý của nhóm bàn tay bị bệnh cho kết quả DMLm, DSLm, DMLd, DSLd của nhóm bệnh nhân đều có giá trị trung bình cao hơn giá trị trung bình trên người khỏe mạnh với p<0,05. Thông số điện sinh lý của nhóm bệnh nhân được phân độ dựa theo tiêu chuẩn của Robert A: Nhóm bất thường giá trị điện sinh lý mức nhẹ, độ I chiếm: 18,4%, mức vừa, độ II chiếm: 55,1% và mức nặng, độ III chiếm 26,5%.
Về mối liên quan giữa triệu chứng lâm sàng và mức độ biến đổi điện sinh lý, triệu chứng tê bì không có sự khác biệt giữa các mức độ điện sinh lý (p>0,05). Triệu chứng kim châm, đau, đau tăng về đêm, đau liên tục chủ yếu tổn thương độ II và III. Hạn chế vận động và teo cơ gặp chủ yếu ở tổn thương độ III. Hạn chế vận động và teo cơ gặp chủ yếu ở tổn thương độ III.
Còn kết quả đánh giá mối tương quan giữa triệu chứng lâm sàng và mức độ thay đổi điện sinh lý, bệnh nhân có biểu hiện tê bì kiểu kim châm có nguy cơ biến đổi điện sinh lý ở độ II và III gấp 3 lần so với độ I; Biểu hiện đau có nguy cơ tổn thương độ II gấp 5,67 lần so với độ I; Hạn chế vận động có nguy cơ tổn thương độ III gấp 14 lần so với độ I và II; Có teo cơ có nguy cơ tổn thương độ III gấp 36 lần so với độ I và II.
Tác giả Bùi Thị Ngọc đã có kết luận nghiên cứu, biểu hiện lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu chủ yếu là rối loạn cảm giác, chiếm tỷ lệ cao 95,5%, tiếp theo là đau, đau tăng về đêm, hạn chế vận động và teo cơ lần lượt là 53,7%, 30,8%, 23,5% và 16,2%, như vậy hầu hết bệnh nhân đến khám ở giai đoạn sớm của bệnh. Ghi điện thế kích thích cảm giác và vận động dây thần kinh giữa có giá trị cao giúp chẩn đoán tổn thương thần kinh giữa trong hội chứng ống cổ tay.
Thanh Tùng