
Trong năm 2015, tác giả Lê Thị Kim Dung tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và các yếu tố liên quan tại thị xã Ninh Hòa năm 2015”. Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ trẻ em dưới 5 tuổi 27 xã, phường; Bà mẹ có con dưới 5 tuổi thuộc 6 xã, phường. Miền núi: Ninh Tây, Ninh Tân; Vùng biển: Ninh Ích, Ninh Thủy và đồng bằng: Ninh Xuân, Ninh Đa.
Theo tác giả, hiện nay tình trạng mất cân bằng giới khi sinh đang là mối quan tâm của ngành y tế và toàn xã hội. Tại thị xã Ninh Hòa, tổng số trẻ dưới 5 tuổi được cân 16.961 trẻ, trong đó trẻ trai 8.986, chiếm tỷ lệ 52,98% cao hơn trẻ gái 7.975 chiếm tỷ lệ 47,02%. Tỷ lệ 112 trẻ trai/100 trẻ gái. SDD cân nặng ở trẻ em trai 435 chiếm tỷ lệ 51,3% và trẻ em gái 413 chiếm tỷ lệ 48,7%. SDD chiều cao ở trẻ em trai 608 chiếm tỷ lệ 52,3% và trẻ em gái 554 chiếm tỷ lệ 47,7%. Do đó cần chú trọng công tác truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh.
Trẻ em < 5 tuổi là lứa tuổi phát triển rất nhanh, đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng cao. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ là kết quả của nhiều tác động qua lại giữa các yếu tố kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán, môi trường. Nên việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ chính là chỉ số hữu ích cho ta thấy được sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Kết quả phân tích các yếu tố liên quan từ trẻ cho thấy tình trạng tiêu chảy trong 2 tuần qua có liên quan đến SDD của trẻ với tỷ lệ rất cao là 65,38%. Tình trạng ho, sốt trong 2 tuần qua có liên quan đến SDD của trẻ với tỷ lệ rất cao là 48,06%.
Các yếu tố liên quan từ bà mẹ: Mức học vấn của mẹ thấp, từ tiểu học trở xuống có liên quan đến SDD của trẻ với tỷ lệ là 35,68%. Dân tộc thiểu số có tỷ lệ trẻ SDD rất cao là 46,94%. Nghề nghiệp làm ruộng, nương rẫy của mẹ có liên quan đến SDD của trẻ với tỷ lệ 37,17%. Thời điểm cho trẻ ăn bổ sung sớm trước 3 tháng có liên quan đến SDD của trẻ với tỷ lệ 68,66%.
Các yếu tố liên quan từ gia đình: Có anh chị em ruột bị SDD là có liên quan đến SDD của trẻ với tỷ lệ là 49,25%.
Tác giả Lê Thị Kim Dung đã có những khuyến nghị cụ thể: (1) Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại cộng đồng có hiệu quả, đặc biệt là truyền thông kỹ năng chăm sóc thai sản, mất cân bằng giới tính khi sinh, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ bình thường và khi trẻ ốm, cách phòng các bệnh nhiễm trùng trẻ thường mắc phải; (2) Chế biến bữa ăn dinh dưỡng theo nhóm hộ gia đình nhưng phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Đặc biệt chú trọng thức ăn dinh dưỡng ưu tiên cho nhóm trẻ từ 25 tháng đến 36 tháng tuổi; (3) Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về kiến thức dinh dưỡng, hội thi cộng tác viên dinh dưỡng giỏi, thu hút các bà mẹ có con < 5 tuổi tham gia, nhằm tuyên truyền kiến thức dinh dưỡng bằng nhiều hình thức. Đẩy mạnh hoạt động phòng chống SDD trẻ em trong phong trào thi đua xây dựng Làng Văn hóa – Sức khỏe; (4) Cần có những nghiên cứu xây dựng mô hình hoạt động phù hợp ở các xã khó khăn vùng sâu, vùng xa, những vùng này cần có một hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo, rất cơ bản cho hoạt động cải thiện dinh dưỡng trẻ em, có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động chăm sóc tại cộng đồng, từ đó cải thiện chất lượng chăm sóc tại hộ gia đình, nhóm trẻ hộ gia đình, xây dựng điểm phục hồi dinh dưỡng tại các thôn; (5) Hỗ trợ thêm kinh phí cho mạng lưới cộng tác viên cao hơn nữa, đầu tư cho hoạt động truyền thông dinh dưỡng và trình diễn chế biến thức ăn dinh dưỡng tại cộng đồng để nâng cao nhận thức của người dân phòng chống SDD. Đồng thời phân phối nguồn phúc lợi để phát triển nông thôn đồng bộ, trong nhiều giải pháp giảm nghèo vấn đề chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng đa dạng, sản xuất để vừa tăng thu nhập, vừa tham gia tốt hơn dinh dưỡng cho khẩu phần ăn hàng ngày của hộ gia đình một cách ổn định và bền vững.
Mai Trang