
Từ tháng 6-7/2015, Y sĩ Lê Thị A Ly tiến hành đề tài “Khảo sát tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại xã Ninh Bình”. Có 810 trẻ dưới 5 tuổi và 200 bà mẹ nuôi con nhỏ tại 9 thôn của xã được chọn tham gia nghiên cứu.
Theo tác giả nghiên cứu, qua cân đo trực tiếp trẻ, chấm biểu đồ tăng trưởng, phỏng vấn các bà mẹ về nhận thức suy dinh dưỡng, nghiên cứu đã cho thấy có kết quả cụ thể: tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng theo cân nặng ở nữ là 45,76% cao hơn ở nam là 3,93%; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng được đo ở nữ là 5,82% cao hơn ở nam là 5,55%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng cân nặng và suy dinh dưỡng chiều cao giảm dần qua 5 năm, năm 2015 tỷ lệ suy dinh dưỡng cân nặng 4,32% và suy dinh dưỡng chiều cao là 5,67%. Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết về suy dinh dưỡng qua các kênh tuyên truyền cao ở nhóm nhân viên y tế, cộng tác viên dinh dưỡng 96%; sách báo, tờ rơi, internet là 88,5%. Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết về các dấu hiệu trẻ bị suy dinh dưỡng trẻ em gầy còm là 98,5%, biếng ăn 97,5%. Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết dấu hiệu phù là 76%. Tỷ lệ bà mẹ biết nguyên nhân suy dinh dưỡng do ăn uống không đủ chất là 97,5%; bệnh tật 94,5%; thiếu kiến thức nuôi con đạt tỷ lệ thấp 77,5%. Tỷ lệ bà mẹ biết cách phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em ăn uống đủ dinh dưỡng 96,5%; cho trẻ bú sữa mẹ 91%; cân, đo trẻ định kỳ 90,5%.
Qua phân tích Ys Lê Thị A Ly cho rằng tỷ lệ suy dinh dưỡng cân nặng 4,32% và suy dinh dưỡng chiều cao 5,67%. Tỷ lệ này đánh giá sự can thiệp hiệu quả chương trình phòng, chống suy dinh dưỡng đã triển khai trong nhiều năm. Bên cạnh đó còn phản ánh phần nào nhận thức và thực hành dinh dưỡng tốt đối với các bà mẹ nuôi con nhỏ, sự ổn định về kinh tế gia đình – xã hội tại địa phương, nâng cao sức khỏe, tầm vóc và trí tuệ trẻ em trong tương lai.
Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết về suy dinh dưỡng qua các kênh tuyên truyền cao ở nhóm nhân viên y tế, cộng tác viên dinh dưỡng 96%; sách báo, tờ rơi, internet 88,5%; cộng đồng các bà mẹ 83,5%; đài truyền thanh, truyền hình 82,5%. Điều này phản ánh vai trò nòng cốt về tuyên truyền phòng chống suy dinh dưỡng của nhân viên y tế và các cộng tác viên chương trình suy dinh dưỡng, hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện truyền thông phù hợp trên từng đối tượng. Bên cạnh đó yếu tố cộng đồng giữa các bà mẹ nuôi con nhỏ truyền thông tin về suy dinh dưỡng với nhau cũng cần được phát huy. Đồng thời, tiếp tục mở rộng nhiều kênh thông tin tuyên truyền về suy dinh dưỡng đến các bà mẹ trong nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ.
Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết về các dấu hiệu trẻ bị suy dinh dưỡng trẻ em gầy còm (98,5%), biếng ăn (97,5%), tỷ lệ bà mẹ hiểu biết thấp dấu hiệu phù (76%). Tỷ lệ bà mẹ biết nguyên nhân suy dinh dưỡng do ăn uống không đủ chất (97,5%), bệnh tật (94,5%); thiếu kiến thức nuôi con đạt tỷ lệ thấp (77,5%). Vấn đề này cần tiếp tục nâng cao nhận thức về suy dinh dưỡng để sớm can thiệp hiệu quả khi trẻ có dấu hiệu suy dinh dưỡng.
Tỷ lệ bà mẹ biết cách phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em ăn uống đủ dinh dưỡng (96,5%); cho trẻ bú sữa mẹ (91%); cân, đo trẻ định kỳ (90,5%). Tỷ lệ này góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng chung hàng năm, đồng thời có tác động hỗ trợ tích cực đến hoạt động chương trình phòng chống suy dinh dưỡng tại địa phương.
Tác giả nghiên cứu cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể gồm: một là tuyên truyền giáo dục cần được tiếp tục tăng cường phòng chống suy dinh dưỡng cho bà mẹ nuôi con nhỏ dưới 5 tuổi, sử dụng nhiều kênh tuyên truyền với nhiều hình thức, trong đó đặc biệt chú ý đến tuyên truyền trực tiếp từ cán bộ y tế và cộng tác viên chương trình, tăng cường sử dụng và cấp phát tờ rơi. Phối hợp truyền truyền lồng ghép chương trình suy dinh dưỡng trong các kỳ họp tại địa bàn thôn, đào tạo kỹ năng tuyên truyền cho các cộng tác viên chương trình. Hai là cán bộ y tế phối hợp y tế thôn mở các lớp tập huấn định kỳ về chủ đề suy dinh dưỡng, lồng ghép truyền thông suy dinh dưỡng và thực hành dinh dưỡng cho tất cả bà mẹ nuôi con dưới 5 tuổi. Hướng dẫn cụ thể về nhận biết trẻ suy dinh dưỡng và các biện pháp phòng, chống phù hợp cho từng trẻ có dấu hiệu suy dinh dưỡng, nhằm tạo điều kiện tốt cho bà mẹ cách nuôi con khỏe trong điều kiện kinh tế của từng gia đình. Ba là quản lý và thông tin trẻ bị suy dinh dưỡng qua đợt tổng cân đến các bà mẹ, phối hợp hỗ trợ và theo dõi tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ để có biện pháp phù hợp nhằm sớm khắc phục tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ. Duy trì và tổ chức thực hiện các đợt tổng cân, đo trẻ dưới 5 tuổi theo định kỳ, bảo đảm tất cả trẻ trong diện quản lý đều được cân, đo và theo dõi sức khỏe.
Tác giả nghiên cứu cũng đề xuất giải pháp hỗ trợ gồm tiêm chủng đầy đủ vắc xin phòng bệnh trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho > 95% trẻ trong diện tiêm. Chính quyền địa phương cần hỗ trợ xã hội đối với các gia đình có trẻ bị bệnh tật mạn tính gây suy dinh dưỡng kéo dài. Ban chỉ đạo phòng chống suy dinh dưỡng xã cần hoạt động tích cực, chỉ đạo và tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đã và đang triển khai tại địa phương./.
Hoa Phượng