[Đăng ngày: 22/06/2016]
Theo GS.TS Nguyễn Công Khanh, GS.TS Nguyễn Gia Khánh Chủ tọa Hội nghị đồng thuận về chẩn đoán và điều trị viêm, loét dạ dày, tá tràng do Helicobacter Pylori ở trẻ em khi thăm khám cần chú ý: Đánh giá toàn trạng bệnh nhân; tinh thần, nhịp tim, mạch, huyết áp và sự đàn hồi mao mạch; da và niêm mạc để đánh giá mức độ thiếu máu; khám kỹ tim mạch và phổi; khám bụng, thăm trực tràng.
Đối với các biểu hiện lâm sàng: Đau bụng là triệu chứng thường gặp nhất. Đau bụng tái diễn được định nghĩa là có ít nhất 3 cơn đau làm ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường của trẻ, xuất hiện tái đi tái lại trong khoảng thời gian 3 tháng trong năm.
Các biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu ở trẻ nhỏ, trẻ có thể có biểu hiện kém ăn, kích thích. Trẻ trên 8 tuổi triệu chứng lâm sàng biểu hiện giống ở người lớn với các triệu chứng đau bụng vùng thượng vị, nôn, ợ hơi, ợ chua; nôn thức ăn hoặc nôn máu; thiếu máu; đi ngoài phân đen; ăn chóng no, đầy bụng, khó tiêu; nhiễm H. pylori có thể gây các biểu hiện tại đường tiêu hóa như đau bụng tái diễn, viêm, loét dạ dày – tá tràng, luồng trào ngược dạ dày thực quản hoặc ngoài đường tiêu hóa như thiếu máu thiếu sắt, xuất huyết giảm tiểu cầu.
Các xét nghiệm chẩn đoán viêm dạ dày và nhiễm H. pylori ở trẻ em cần dựa trên kết hợp nội soi dạ dày – tá tràng và mô bệnh học. Nội soi dạ dày lấy mảnh sinh thiết được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán nhiễm H. pylori vì vi khuẩn có thể quan sát được trên mô bệnh học bằng một số phương pháp nội soi hoặc cấy từ mảnh sinh thiết. Hầu hết các nhiễm trùng do H. pylori là nhiễm trùng không triệu chứng nên nội soi chủ yếu được áp dụng cho trẻ em có các triệu chứng tiêu hóa. Nội soi được xem là chuẩn vàng duy nhất trong chẩn đoán loét dạ dày – tá tràng ở trẻ em cũng như các bệnh lý đường tiêu hóa trên khác như luồng trào ngược dạ dày thực quản (GERD) hay viêm thực quản do tăng bạch cầu ái toan. Mảnh sinh thiết dạ dày – tá tràng lấy từ quá trình nội soi được sử dụng để làm xét nghiệm mô bệnh học, nuôi cấy và kháng sinh đồ, các xét nghiệm này đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị bệnh ở những trẻ em có các triệu chứng tiêu hóa.
Đối với mô bệnh học được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán nhiễm H. pylori. Mô bệnh học được sử dụng như là xét nghiệm quy chiếu để đánh giá giá trị chẩn đoán của các phương pháp khác. Tuy nhiên kết quả mô bệnh học phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí, số lượng và kích thước của mảnh sinh thiết cũng như kỹ thuật nhuộm và kinh nghiệm của người đọc. Ưu điểm của mô bệnh học so với các phương pháp chẩn đoán khác là vừa phát hiện được H. pylori vừa có khả năng đánh giá được tổn thương giải phẫu bệnh kèm theo như tổn thương viêm, teo viêm mạc, dị sản ruột, ung thư hóa. Thông thường khi không phát hiện được tổn thương viêm mạn tính trên mô bệnh học là dấu hiệu dự đoán không nhiễm H. pylori còn khi trên tiêu bản thấy có biểu hiện viêm thì người đọc có thể lưu ý tìm kiếm H. pylori kỹ hơn tránh để bỏ sót.
Mô bệnh học có độ đặc hiệu rất cao trong khi đó độ nhạy dao động tùy theo từng trung tâm giải phẫu bệnh. Do phân bố của H. pylori trong dạ dày là không đồng đều, đặc biệt là sau khi dùng thuốc làm giảm số lượng H. pylori như Bismuth, kháng sinh và PPI, quy trình nội soi cần lấy nhiều mảnh sinh thiết (nên lấy tối thiểu 2 mảnh) để cho giá trị chẩn đoán chính xác.
Mô bệnh học rất cần thiết trong những trường hợp bệnh nhân bị viêm dạ dày nhưng test nhanh urease âm tính vì có thể hỗ trợ giúp phát hiện những trường hợp âm tính giả của RUT do bệnh nhân dùng thuốc trước khi nội soi.
Các nội dung được Hội nghị đồng thuận cần lưu ý là:Đối tượng nên được làm test chẩn đoán nhiễm H. pylori: Không áp dụng nội soi và các test chẩn đoán nhiễm H. pylori cho tất cả trẻ đau bụng; bệnh nhân bị đau bụng tái diễn cần được khám lâm sàng và làm xét nghiệm loại trừ nguyên nhân đau bụng ngoài đường tiêu hóa trước khi làm test chẩn đoán nhiễm H. pylori; bệnh nhân thiếu máu thiếu sắt chưa tìm được nguyên nhân và không đáp ứng với liệu pháp điều trị bổ sung sắt cần được làm các xét nghiệm chẩn đoán nhiễm H. pylori.
Phương pháp chẩn đoán nào nên được sử dụng và vận dụng kết quả xét nghiệm: Nội soi phải mô tả các tổn thương theo phân loại Sydney; mô tả tổn thương giải phẫu bệnh theo tiêu chuẩn Sydney; vị trí sinh thiết dạ dày để xác định sự có mặt của H. pylori trên tiêu bản mô bệnh học là thân vị và hang vị; chẩn đoán ban đầu nhiễm H. pylori cần dựa trên 2 kết quả dương tính: kết quả giải phẫu bệnh (+) + test thở (+); kết quả giải phẫu bệnh (+) + test phân (+);Kết quả giải phẫu bệnh (+) + test nhanh urease (+) hoặc 1 tiêu chuẩn cấy H. pylori (+).
Chỉ sử dụng test thở hoặc test phát hiện kháng nguyên trong phân để xác định tình trạng nhiễm và diệt H. pylori.
Bệnh nhân loét dạ dày – tá tràng cần đủ 3 phương pháp chẩn đoán H. pylori âm tính mới được kết luận loét H. pylori âm tính.
Test huyết thanh chỉ sử dụng cho các nghiên cứu dịch tễ không áp dụng trong chẩn đoán và điều trị.
Sinh thiết dạ dày hoặc các test không xâm nhập (test thở, test phân) nên được tiến hành sau khi ngừng PPI > 2 tuần và ngừng kháng sinh > 4 tuần.
Không chẩn đoán viêm dạ dày – tá tràng chỉ dựa vào khai thác các triệu chứng lâm sàng và test thở/test phân.
Các thuật ngữ được hội nghị thống nhất là:
Viêm dạ dày (Gastritis) là những tổn thương vi thể của niêm mạc dạ dày (có sự xâm nhập của bạch cầu đa nhân và mono ở bề mặt biểu mô, tuyến hoặc lamina propria), thể hiện sự đáp ứng của niêm mạc dạ dày đối với các yếu tố tấn công.
Viêm tá tràng (duodenitis) là tình trạng viêm vi thể của niêm mạc tá tràng (có sự xâm nhập của bạch cầu đa nhân và mono ở bề mặt biểu mô, tuyến hoặc lamina propria), có thể kèm theo hiện tượng cùn mòn các nhung mao.
Loét dạ dày – tá tràng: là tình trạng tổn thương sâu làm mất tổ chức niêm mạc một cách có giới hạn ở phần ống tiêu hóa có bài tiết acid và pepsin.
Nhiễm H. pylori là tình trạng các test chẩn đoán nhiễm H. pylori dương tính.
Tái nhiễm H. pylori là tình trạng các test chẩn đoán nhiễm H. pylori đã âm tính ở thời điểm > 4 tuần sau điều trị lại dương tính trở lại, H. pylori có thể khác hoặc cùng chủng với chủng vi khuẩn đã nhiễm từ trước khi điều trị.
 
Anh Huy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 127

Số lượt truy cập: 9368517

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang