
Hội chứng chuyển hóa (HCCH) là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng rất được quan tâm hiện nay.
Nhóm tác giả Hà Văn Thiệu - Bệnh viện Nhi Đồng Nai, Lê Thị Ngọc Dung – Đại học Y dược Tp. Hồ Chí Minh, năm 2010-2012 đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng Hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở trẻ em thừa cân, béo phì từ 10 đến 15 tuổi”.
Đối tượng nghiên cứu là học sinh 10-15 tuổi đủ tiêu chuẩn chẩn đoán thừa cân, béo phì đang học tại các trường Trung học cơ sở thành phố Biên Hòa.
Tác giả nghiên cứu thực hiện chọn mẫu nhiều bước, tiêu chuẩn chẩn đoán trẻ em thừa cân, béo phì, dựa theo CDC-2000. Nhóm nghiên cứu chia 3 mức độ: Mức 1: 85th percentile ≤ BMI < 95th percentile, mức 2: 95th percentile ≤ BMI < 97th percentile và mức 3: BMI ≥ 97th percentile. Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH, vòng eo ≥ 90th percentile dựa theo percentile của Riata YT Sung. TG ≥ 1,7 mmol/L hoặc ≥ 150mg/dL. HDL-C < 1,3 mmol/L hoặc < 40mg/dL. Huyết áp tâm thu ≥ 130 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥ 85mmHg. Glucose máu ≥ 5,6 mmol/L hoặc ≥ 100mg/dL. Theo IDF, vòng eo và sự hiện diện ít nhất 2 tiêu chuẩn đã được liệt kê theo tuổi và giới thì được xem là trẻ đó có HCCH. Đo cân nặng, chiều cao, vòng eo, vòng mông (VM) theo quy định của WHO. Đo tỷ lệ mỡ cơ thể (BFP) theo phân tích điện trở sinh học (BIA: Bioeletrial Impedance Analysis) với cân đo Omron (Nhật Bản). Các đối tượng nghiên cứu nhịn đói 8 giờ trước khi lấy máu xét nghiệm.
Cũng theo tác giả nghiên cứu, những ghi nhận của Tổ chức Lương thực – Nông nghiệp thế giới và WHO (FAO/WHO) cho thấy các nước có thu nhập quốc dân đầu người gia tăng thì trong cơ cấu khẩu phần ăn (tính theo % năng lượng) tỷ lệ năng lượng từ lipid cũng gia tăng. Tại Việt Nam điều tra Viện Dinh dưỡng mức tiêu thụ lipid trung bình 12g/người/ngày vào năm 1985 đến 2000 là 2.5g/người/ngày theo đó khuynh hướng thừa cân, béo phì của người trưởng thành tại thành thị 0,4% (1984) đến năm 2000 là 10%.
Kết quả nghiên cứu của tác giả ghi nhận thừa cân, béo phì độ III chiếm 58,04% cho cả hai giới 10-15 tuổi ít nhiều cũng phản ảnh hiện tượng này. Béo phì trung tâm ở người lớn và trẻ em có liên quan yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch, đề kháng insulin và tăng huyết áp. Vòng eo, tỷ số vòng eo/VM và tỷ số vòng eo/chiều cao đã được sử dụng đánh giá béo phì trung tâm.
Qua mẫu nghiên cứu 510 trẻ thừa cân, béo phì từ 10-15 tuổi, trong đó nam giới chiếm tỷ lệ 49,8%, nữ giới chiếm 50,2%, các tác giả nghiên cứu đã báo cáo trẻ em thừa cân, béo phì có 31,37% mắc HCCH (nữ > nam; p>0,05). 85th ≤ BMI < 90th percentile chiếm 6,67%, BFP (X±SD):24,78±3,55 (nam<nữ, p<0,001). BMI ≥ 95th percentile chiếm 58,04%, BFP (X±SD):26,61±3,43 (nam<nữ, p<0,001). Tăng huyết áp tâm thu chiếm 33,92% và tăng huyết áp tâm trương chiếm 4,51%. Tương quan có ý nghĩa thống kê giữa các chỉ số nhân trắc, BFP với huyết áp. BMI, vòng eo và BFP tương quan với huyết áp tâm thu với (r=0,19), (r=0,19) và (r=0,10) theo thứ tự, tất cả p<0,05. BMI, vòng eo và BFP tương quan với huyết áp tâm trương với (r=0,30), (r=0,35) và (r=0,20) theo thứ tự, tất cả p<0,05. Có sự tương quan nghịch giữa vòng eo/VM với huyết áp tâm thu và tâm trương với (r= -0,19) và (r=0,13), p<0,05. Các trị số trung bình chỉ số nhân trắc vòng eo, BMI, huyết áp tâm thu và tâm trương, TG, HDL-C và glucose có sự khác biệt giữa 2 nhóm có và không có hội chứng chuyển hóa cho cả 2 giới, p<0,05.
Chúng ta biết rằng giữa nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng có một mối liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau. Dinh dưỡng cân bằng dựa trên tổng nhu cầu các chất dinh dưỡng với sự hấp thu tối ưu, sự tác dụng hòa hợp giữa các thành phần thức ăn để có tác dụng chuyển hóa tốt nhất. Protein không được sử dụng có hiệu quả nếu thiếu năng lượng và một số vitamin. Để tạo máu không những cần các chất dinh dưỡng mà còn cần Fe. Hấp thu Ca++ giảm nếu tỷ lệ Ca/P không hợp lý, Vitamin A không phát huy tác dụng nếu thiếu Protein và khẩu phần ăn nhiều carbonhydrat làm tăng nhu cầu Vitamin B1...
Một số chỉ số đánh giá sự cân đối của khẩu phần: Để Protein được sử dụng tối ưu cần 200-300 Kcal/1g N2 tương đương 6,25g Protein. Tỷ lệ giữa 3 chất dinh dưỡng chính (đậm độ nhiệt của từng chất). Protein 10-14% đối với trẻ em. Protein động vật nên chiếm 50% tổng số Protein. Lipid ở trẻ nhỏ 40-50%; trẻ lớn 30%; người lớn 20-25%. Trong đó, Lipid thực vật nên chiếm 30%. Carbonhydrat 50-60%, trong đó đường Sucrosa nên dưới 20% tổng Carbonhydrat. Tỷ lệ Ca/P = 0,5 – 2 (tùy theo lứa tuổi) đối với sơ sinh nên = 1,5 – 2; Ca/Mg = 1/0,6.
Cứ 1.000 Kcal cần 0,4mg B1; 0,55 mg B2 và 6,6mg đương lượng Niacin. Trong thiên nhiên, ngoại trừ sữa mẹ trong những tháng đầu của cuộc đời, không có một thực phẩm nào cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng với tỷ lệ cân đối hợp lý. Do đó người nuôi dưỡng trẻ, các bậc cha mẹ cần phải biết phối hợp các loại thức ăn khác nhau để bổ sung lẫn nhau. Nói chung, một khẩu phần ăn đủ năng lượng, dựa vào thực phẩm tự nhiên, ăn hỗn hợp và thay đổi nhiều loại thực phẩm, không kiêng khem. Thường đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của cơ thể.
Ngô Thanh